Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Nghiên cứu các mức năng lượng trao đổi và các acid amin trong khẩu phần lên năng suất sinh trưởng của vịt Xiêm địa phương nuôi thịt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Kim Đông và TS. Phạm Ngọc Du, cùng sự cố vấn định hướng của GS. Nguyễn Văn Thu tại Trường Đại học Cần Thơ. Đề tài thuộc chuyên ngành Chăn nuôi, đi sâu vào lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn cho gia cầm thủy cầm.

Vịt Xiêm (Muscovy duck, tên khoa học Cairina moschata) là đối tượng chăn nuôi thủy cầm quan trọng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhờ phẩm chất thịt nạc cao, cơ ức dày, tỷ lệ mỡ thấp và hàm lượng protein đạt từ 19,6% đến 21% CP. Trong thực tế sản xuất tại địa phương, giống vịt Xiêm địa phương (vịt Xiêm Trâu) chiếm ưu thế lớn nhờ khả năng thích nghi cao, chịu đựng dịch bệnh tốt và tận dụng hiệu quả các nguồn phụ phẩm nông nghiệp như bã bia, bã đậu nành, cá vụn, bã khoai mì và rau xanh. Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi nông hộ tại tỉnh Trà Vinh phần lớn vẫn mang tính quảng canh, khẩu phần nghèo dưỡng chất và chưa đáp ứng đúng nhu cầu sinh lý của gia cầm theo từng giai đoạn phát triển. Phần lớn các tài liệu, tiêu chuẩn dinh dưỡng hiện hành tại Việt Nam và trên thế giới đều tập trung khảo sát trên các dòng vịt Xiêm nhập nội (vịt Xiêm Pháp như R31, R51, R71, RT11) hoặc các giống vịt Bắc Kinh (Pekin), trong khi nguồn dẫn liệu thực nghiệm về nhu cầu năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP), lysine, threonine và khả năng tiêu hóa biểu kiến của giống vịt Xiêm bản địa còn thiếu hụt.

Luận án xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Xác định các mức hợp lý của năng lượng trao đổi và các acid amin trong khẩu phần để nuôi vịt Xiêm địa phương cho năng suất thịt và đạt hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm tăng thu nhập cho người chăn nuôi, đồng thời phát triển ngành chăn nuôi vịt Xiêm địa phương thêm đa dạng và phong phú.
  • Mục tiêu cụ thể (được đánh số theo văn bản luận án):
    1. Khảo sát hiện trạng chăn nuôi vịt Xiêm địa phương tại tỉnh Trà Vinh.
    2. Xác định ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần lên năng suất sinh trưởng của vịt Xiêm địa phương.
    3. Xác định ảnh hưởng của các mức protein thô và threonine trong khẩu phần lên năng suất sinh trưởng và tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến tối ưu của vịt Xiêm địa phương.
    4. Xác định ảnh hưởng của các mức lysine - năng lượng trao đổi lên năng suất sinh trưởng và tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến tối ưu của vịt Xiêm địa phương nuôi thịt.
    5. Đánh giá ảnh hưởng của phương thức nuôi theo giới tính lên năng suất sinh trưởng của vịt Xiêm địa phương.

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận án là giống vịt Xiêm địa phương (vịt Xiêm Trâu), có nguồn gốc con giống thu thập tại xã Đức Mỹ, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Động vật thí nghiệm được nuôi úm thống nhất từ 1 đến 28 ngày tuổi, được tiêm phòng vắc-xin đầy đủ trước khi bước vào các giai đoạn thực nghiệm chuyên môn từ 5 đến 12 tuần tuổi.

Phạm vi không gian của luận án bao gồm địa bàn 12 xã thuộc 3 huyện có mật độ chăn nuôi vịt Xiêm cao nhất tỉnh Trà Vinh (Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè) đối với nội dung điều tra thực địa. Bốn thí nghiệm chuyên môn còn lại được triển khai tại Trại chăn nuôi thực nghiệm Trường Đại học Trà Vinh (Khóm 4, Phường 5, TP. Trà Vinh). Toàn bộ các phân tích hóa học thành phần thức ăn, phân thải và dịch hồi tràng được thực hiện tại Phòng thí nghiệm E205 (Bộ môn Chăn nuôi) và Phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học Đất (Trường Đại học Cần Thơ), kết hợp Phòng Phân tích thức ăn và Sản phẩm chăn nuôi thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia (Hà Nội). Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài liên tục từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa bức tranh toàn diện về chăn nuôi và dinh dưỡng vịt Xiêm trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Nguồn gốc và tình hình chăn nuôi trên thế giới: Vịt Xiêm (Cairina moschata) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung và Nam Mỹ (Anonymou, 2012; Holderread, 2001). Tại châu Âu, đặc biệt là Pháp, thịt vịt Xiêm chiếm 75-80% thị phần thịt vịt (Elena, 2001), đóng góp 45% nguồn cung thịt thông qua các hệ thống chăn nuôi thâm canh (Zanusso et al., 2003). Vịt Xiêm trống còn được sử dụng để thụ tinh nhân tạo tạo con lai phục vụ sản xuất gan béo (foie gras) chiếm tới 95% sản lượng (Marie-Etancelin et al., 2008). Tại khu vực Đông Nam Á, các quốc gia như Indonesia đã tiến hành lai tạo giữa vịt Xiêm với các giống vịt địa phương (vịt Alabio ghép vịt Xiêm tạo vịt Kiar, Tiktok hoặc Kisar) nhằm nâng cao phẩm chất quầy thịt (CIVAS và FAO, 2006; SPFS Indonesia, 2005).
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Ngan cỏ nội địa có 3 dòng màu lông chính gồm Xiêm trắng (Xiêm Ré), Xiêm loang trắng đen (Xiêm Sen) và Xiêm đen (Xiêm Trâu) (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2004). Các nghiên cứu lai tạo vịt Xiêm Pháp (các dòng R31, R51, R71 nhập nội từ 1992-2005 và dòng RT11 từ Tập đoàn Grimaud năm 2007) với vịt nội đã được kiểm chứng bởi Phước và ctv. (1994), Phạm Văn Trượng (1997), Nguyễn Đức Trọng (2006), Ngô Văn Vĩnh và ctv. (2005, 2008) và Lương Thị Thủy và ctv. (2012). Về dinh dưỡng, các tác giả trong nước chủ yếu tập trung khai thác nguồn thức ăn địa phương như bèo tấm (Men, 1996; Dang Thi My Tu và Nguyen Thi Kim Dong, 2012), rau muống (Huỳnh Hữu Chí, 1997), bã bia (Dong và Ogle, 2003), phụ phẩm cá tra (Nguyễn Thùy Linh, 2010). Nghiên cứu về nhu cầu năng lượng và protein được công bố bởi Nguyễn Duy Hoan và ctv. (2010), Trần Quốc Việt và ctv. (2010), tuy nhiên đều thực hiện trên đối tượng vịt Xiêm Pháp thương phẩm hoặc vịt Xiêm Pháp sinh sản.
  • Nghiên cứu về nhu cầu năng lượng, protein và acid amin: Luận án điểm lại các tiêu chuẩn quốc tế như NRC (1994), ARC (1975), INRA (1989), Scott và Dean (1991), Rose (1997), Adeola (2006). Leclercq và Carville (1986) khuyến cáo mức ME 3107 kcal (13 MJ/kg) cho vịt Xiêm từ 29 đến 84 ngày tuổi. Các thực nghiệm về nhu cầu protein và acid amin của Horton (1932), Hamlyn et al. (1934), Dean et al. (1965, 1972, 1978, 1985, 1986), Wilson (1975), Siregar et al. (1982a, b), Shen (1977), Chen (1979), Schubert et al. (1981), Baeza et al. (1997, 1998, 2012), Tugiyanti et al. (2013) đều cho thấy tỷ lệ protein và ME tối ưu suy giảm dần theo độ tuổi sinh trưởng của gia cầm.
  • Khái niệm protein lý tưởng và threonine: Luận án tiếp cận mô hình protein lý tưởng dựa trên tỷ lệ cân đối giữa các acid amin thiết yếu so với lysine làm chuẩn (100%) theo các công trình của Baker và Han (1994), Cole và Van Lumen (1994), Fuller (1994), Emmert và Baker (1997), Mack et al. (1999), Baker et al. (2002). Threonine được khẳng định là acid amin thiết yếu tham gia tổng hợp protein, tạo cấu trúc collagen, elastin và tạo các sản phẩm biến dưỡng quan trọng như glycine, acetyl-CoA, pyruvate (Kidd và Kerr, 1996; Zhang et al., 2014; Jiang et al., 2017).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình khoa học nào xác định một cách đồng bộ và chuẩn xác nhu cầu năng lượng trao đổi, sự phối hợp giữa protein thô với threonine, giữa lysine với năng lượng trao đổi theo từng giai đoạn tuổi (5-8 tuần và 9-12 tuần) trên giống vịt Xiêm địa phương nuôi tại Việt Nam. Đồng thời, luận án giải quyết khoảng trống về dữ liệu so sánh tỷ lệ tiêu hóa acid amin giữa phương pháp thu chất thải toàn phần và phương pháp dịch tiêu hóa hồi tràng trên giống gia cầm bản địa này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và khung phân tích chuyên ngành:

  • Lý thuyết về chuyển hóa năng lượng và cân đối protein - năng lượng ở gia cầm (McDonald et al., 2010; Bùi Xuân Mến và Đỗ Võ Anh Khoa, 2014; Dương Thanh Liêm, 2008). Nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) là yếu tố chi phối trực tiếp lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của vịt (Dean, 1978; Siregar, 1982b).
  • Khái niệm protein lý tưởng (Ideal Protein) sử dụng lysine làm acid amin quy chiếu (Klasing, 1998; ARC, 1975; Farrell, 1990; Rose, 1997). Bổ sung acid amin tổng hợp công nghiệp (L-lysine, L-threonine) cho phép hạ thấp hàm lượng protein thô khẩu phần mà vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng, giúp giảm bài tiết nitơ gây ô nhiễm môi trường (Moran, 1992; Ospina-Roja, 2012).
  • Khung phân tích cân bằng nitơ và tiêu hóa biểu kiến (Lê Đức Ngoan, 2002; Vũ Duy Giảng và ctv., 1997). Phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến (Apparent Digestibility) được tiến hành qua hai kỹ thuật: phương pháp thu chất thải tổng số (toàn phần) và phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa ở đoạn cuối hồi tràng nhằm loại bỏ sự can thiệp của vi sinh vật lên men tại manh tràng (Ravindran et al., 1999, 2001; Kadim và Moughan, 2008; Jamroz et al., 2001).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm hai hợp phần:

  1. Phương pháp khảo sát nông hộ (Nội dung 1): Chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ chăn nuôi vịt Xiêm có quy mô từ 20 con trở lên tại 12 xã thuộc 3 huyện Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè (Trà Vinh). Tiến hành phỏng vấn trực tiếp chủ hộ theo phiếu điều tra kết hợp cân đo trực tiếp khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi và lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày.
  2. Phương pháp thực nghiệm dinh dưỡng (Thí nghiệm 2, 3, 4, 5):
    • Thí nghiệm nuôi sinh trưởng: Bố trí theo lô thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu lượng chất khô tiêu thụ (DM intake), protein thô tiêu thụ, ME tiêu thụ, tăng khối lượng hàng ngày (DWG), khối lượng kết thúc, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), mổ khảo sát thân thịt cuối kỳ (tỷ lệ thân thịt, cơ ức, cơ đùi, mỡ bụng), phân tích thành phần hóa học thịt tươi (DM, CP, EE, Ash) và hạch toán hiệu quả kinh tế (đồng/con).
    • Thí nghiệm tiêu hóa và cân bằng nitơ (ở Thí nghiệm 3 và Thí nghiệm 4): Bố trí vịt trong lồng trao đổi chất chuyên dụng có khay hứng phân ở 2 thời điểm sinh lý 8 tuần tuổi và 10 tuần tuổi. Thức ăn được trộn chất chỉ thị màu Cr2O3 ở tỷ lệ từ 0,2% đến 0,5% (Hill và Anderson, 1958; Ravindran et al., 2001). Sau thời kỳ chuẩn bị (6-8 ngày), tiến hành thu mẫu chất thải 2 lần/ngày trong 3-5 ngày và trữ đông ở -20°C. Đối với tiêu hóa hồi tràng, sau khi cho ăn 4 giờ, vịt được cố định hệ thần kinh, giải phẫu xoang bụng và vuốt lấy chất chứa trong đoạn hồi tràng cách van hồi - manh tràng 4 cm ngược lên túi thừa Meckel (Jamroz et al., 2001; Nguyen Thi Kim Dong, 2005).

Nguồn dữ liệu và kỹ thuật phân tích: Dữ liệu thô thu thập từ điều tra và thực nghiệm được xử lý sơ bộ bằng Microsoft Excel 2013, sau đó phân tích phương sai (ANOVA) và thống kê mô tả (trung bình, sai số chuẩn SE) bằng phần mềm thống kê chuyên dụng Minitab phiên bản 16.0 (2010). Phép so sánh mức ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức được kiểm định ở ngưỡng xác suất P < 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng của giống vịt Xiêm địa phương tại tỉnh Trà Vinh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả chỉ rõ năng suất chăn nuôi chưa cao do phương thức nuôi tận dụng phụ phẩm nghèo dinh dưỡng và sự thiếu vắng các định mức khoa học về ME và acid amin cân đối cho vịt Xiêm nội. Chương 1 công bố mục tiêu chung và 5 mục tiêu cụ thể, nêu bật ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện hệ thống dẫn liệu dinh dưỡng cho thủy cầm, ý nghĩa thực tiễn giúp người chăn nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế và trình bày 4 đóng góp mới căn bản của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 trình bày tổng quan hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước về vịt Xiêm và nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm. Tác giả điểm lại lịch sử phân bố, đặc điểm sinh học và hiện trạng chăn nuôi vịt Xiêm ở Pháp, Indonesia và Việt Nam; các nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống vịt Xiêm địa phương với vịt Xiêm Pháp và vịt Bắc Kinh. Phần dinh dưỡng phân tích sâu nhu cầu năng lượng trao đổi, protein thô, acid amin thiết yếu (đặc biệt là lysine và threonine), khoáng đa lượng (Ca, P theo tỷ lệ phytate/nonphytate), khoáng vi lượng (Na, Cl) và lipid đối với gia cầm. Phần phương pháp luận tổng quan chi tiết các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa protein và acid amin in vivo: phương pháp thu chất thải toàn phần trực tiếp và gián tiếp qua chỉ thị Cr2O3, phương pháp thu dịch hồi tràng, kỹ thuật cân bằng nitơ, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng như lứa tuổi, thành phần xơ thô (CF yêu cầu 3-6%) và hình thức chế biến thức ăn.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm 5 nội dung nghiên cứu. Tác giả mô tả địa bàn điều tra tại 12 xã thuộc 3 huyện tỉnh Trà Vinh (Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè) từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2015. Bốn thí nghiệm chuyên môn trên vịt Xiêm địa phương (vịt Xiêm Trâu) được bố trí từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016 tại Trại thực nghiệm Trường Đại học Trà Vinh:

  • Thí nghiệm 2: Nghiên cứu các mức ME ở 2 giai đoạn (5-8 tuần và 9-12 tuần tuổi).
  • Thí nghiệm 3: Nghiên cứu các mức CP kết hợp threonine trong khẩu phần sinh trưởng và đánh giá tiêu hóa dưỡng chất, tiêu hóa hồi tràng ở 8 và 10 tuần tuổi.
  • Thí nghiệm 4: Nghiên cứu các mức lysine kết hợp ME trong khẩu phần sinh trưởng và xác định tiêu hóa biểu kiến, tiêu hóa hồi tràng ở 8 và 10 tuần tuổi.
  • Thí nghiệm 5: Nghiên cứu phương thức nuôi theo giới tính (trống, mái, nuôi chung) và so sánh phương thức nuôi phân tách 2 giai đoạn với phương thức nuôi 1 giai đoạn liên tục (5-12 tuần tuổi). Chương này cũng mô tả rõ quy trình thu gom phân, mổ thu dịch hồi tràng, chỉ thị màu Cr2O3 và phương pháp phân tích thống kê trên Minitab 16.0.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

1. Khảo sát hiện trạng chăn nuôi vịt Xiêm tại tỉnh Trà Vinh (Nội dung 1)

Kết quả điều tra tại 12 xã thuộc 3 huyện chỉ ra rằng người dân chủ yếu nuôi giống vịt Xiêm địa phương, chiếm tỷ lệ 68,2% tổng đàn khảo sát. Giống vịt bản địa này được ưa chuộng nhờ khả năng tận dụng tốt nguồn thức ăn phụ phẩm sẵn có, chất lượng thịt thơm ngon, giá bán cao và khả năng chống chịu bệnh tật vượt trội. Tuy nhiên, chăn nuôi còn hạn chế lớn về quy mô đàn, vốn đầu tư và mức độ cung cấp dinh dưỡng; lượng dưỡng chất ăn vào của vịt nuôi trong dân thấp hơn so với nhu cầu thực tế. Giá bán vịt thịt trên thị trường biến động thuận lợi trong khoảng từ 55.000 đến 70.000 đồng/kg khối lượng sống. Hai rào cản kỹ thuật lớn nhất người dân gặp phải là công tác quản lý an toàn dịch bệnh và nguồn cung con giống chất lượng cao.

2. Ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi (ME) trong khẩu phần (Thí nghiệm 2)

Thí nghiệm khảo sát các mức ME khác nhau trên vịt Xiêm địa phương nuôi từ 5 đến 12 tuần tuổi:

  • Giai đoạn 5-8 tuần tuổi: Khẩu phần chứa mức ME 12,97 MJ/kg DM kết hợp 18% CP cho lượng dưỡng chất tiêu thụ, tốc độ tăng khối lượng hàng ngày và khối lượng cơ thể đạt giá trị tối ưu, có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với các mức ME khác (P < 0,05).
  • Giai đoạn 9-12 tuần tuổi: Khẩu phần chứa mức ME 13,81 MJ/kg DM kết hợp 16% CP mang lại mức tăng khối lượng, khối lượng cơ thể kết thúc thí nghiệm, các chỉ tiêu phẩm chất quầy thịt (khối lượng thân thịt, cơ ức, cơ đùi) và hiệu quả kinh tế cao nhất (P < 0,05).

3. Ảnh hưởng của mức protein thô và threonine trong khẩu phần (Thí nghiệm 3)

  • Giai đoạn nuôi sinh trưởng 5-8 tuần tuổi: Khẩu phần có mức 19% CP và 0,8% threonine giúp vịt đạt mức tăng khối lượng hàng ngày và khối lượng cơ thể cao nhất (P < 0,05).
  • Giai đoạn nuôi sinh trưởng 9-12 tuần tuổi: Khẩu phần có mức 17% CP và 0,6% threonine cho kết quả vượt trội (P < 0,05) về tăng trưởng, tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các dưỡng chất và acid amin, lượng dưỡng chất tiêu hóa được, lượng nitơ tích lũy và hiệu quả kinh tế.
  • Thí nghiệm tiêu hóa và cân bằng nitơ: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các dưỡng chất (ngoại trừ xơ thô - CF), hầu hết các acid amin và tỷ lệ nitơ tích lũy/nitơ tiêu thụ ở mốc 8 tuần tuổi đều thấp hơn có ý nghĩa (P < 0,05) so với mốc 10 tuần tuổi. Đáng chú ý, tỷ lệ tiêu hóa hầu hết các acid amin xác định bằng phương pháp thu chất thải toàn phần cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phương pháp đo tại hồi tràng.

4. Ảnh hưởng của mức lysine và năng lượng trao đổi (Thí nghiệm 4)

  • Giai đoạn 5-8 tuần tuổi: Khẩu phần có mức 1,2% lysine kết hợp mức ME 12,97 MJ/kg DM giúp lượng vật chất khô tiêu thụ, tăng khối lượng hàng ngày, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, tiêu hóa acid amin và lượng nitơ tích lũy đạt cao nhất, vượt trội rõ rệt so với các nghiệm thức đối chứng mức 0,80% lysine hay mức ME 12,55 MJ/kg DM (P < 0,05).
  • Giai đoạn 9-12 tuần tuổi: Khẩu phần chứa mức 1,1% lysine kết hợp mức ME 13,81 MJ/kg DM cho kết quả tốt nhất về tăng khối lượng, khối lượng kết thúc, phẩm chất thân thịt (thịt ức, thịt đùi), tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, nitơ tích lũy và lợi nhuận kinh tế (P < 0,05).
  • Tương tự Thí nghiệm 3, khả năng tiêu hóa dưỡng chất, acid amin và tỷ lệ nitơ tích lũy/nitơ tiêu thụ ở 8 tuần tuổi thấp hơn ở 10 tuần tuổi (P < 0,05); tỷ lệ tiêu hóa acid amin ở chất thải toàn phần cao hơn ở hồi tràng (P < 0,05).

5. Ảnh hưởng của phương thức nuôi theo giới tính và phân kỳ nuôi (Thí nghiệm 5)

  • Về yếu tố giới tính: Do tính lưỡng hình sinh dục rõ rệt của loài, vịt Xiêm trống đạt tốc độ tăng khối lượng, khối lượng cơ thể lúc xuất bán và hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt so với vịt Xiêm mái.
  • Về phương thức nuôi: Phương thức nuôi vịt Xiêm tách riêng 2 giai đoạn tuổi (giai đoạn 5-8 tuần tuổi áp dụng khẩu phần protein cao, năng lượng vừa; giai đoạn 9-12 tuần tuổi áp dụng khẩu phần protein giảm, năng lượng tăng) mang lại mức tăng khối lượng, phẩm chất quầy thịt và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với phương thức chỉ cho ăn duy nhất một loại khẩu phần liên tục từ 5 tuần tuổi đến khi xuất bán thịt.

Bảng tổng hợp các thông số khẩu phần tối ưu xác định từ các thí nghiệm thực nghiệm:

Giai đoạn sinh trưởng Năng lượng trao đổi (ME) Protein thô (CP) Threonine Lysine
Giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi 12,97 MJ/kg DM (khoảng 3.100 kcal) 18% - 19% 0,80% 1,20%
Giai đoạn 9 - 12 tuần tuổi 13,81 MJ/kg DM (khoảng 3.300 kcal) 16% - 17% 0,60% 1,10%

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Chương cuối cùng tổng kết các kết quả khoa học đạt được từ cuộc khảo sát hiện trạng và 4 thí nghiệm dinh dưỡng. Tác giả đưa ra kết luận khẳng định mức ME, CP, threonine và lysine thích hợp cho từng giai đoạn nuôi thịt của vịt Xiêm địa phương; khẳng định sự hoàn thiện chức năng tiêu hóa của vịt ở 10 tuần tuổi so với 8 tuần tuổi; đồng thời đề xuất khuyến nghị chuyển giao quy trình nuôi phân tách hai giai đoạn vào thực tiễn chăn nuôi nông hộ tại tỉnh Trà Vinh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết những đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và giá trị thực tiễn:

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:

    1. Luận án đã xác định được một cách có hệ thống mức năng lượng trao đổi (ME) tối ưu trong khẩu phần thức ăn cho giống vịt Xiêm địa phương ở 2 giai đoạn sinh trưởng riêng biệt: 12,97 MJ/kg DM cho giai đoạn 5-8 tuần tuổi và 13,81 MJ/kg DM cho giai đoạn 9-12 tuần tuổi.
    2. Xác định được mức protein thô (CP) và threonine thích hợp trong khẩu phần (19% CP và 0,8% threonine ở 5-8 tuần tuổi; 17% CP và 0,6% threonine ở 9-12 tuần tuổi), đồng thời cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của các dưỡng chất và hầu hết các acid amin của vịt Xiêm địa phương.
    3. Xác định được sự tương tác tối ưu giữa lysine và năng lượng trao đổi (1,2% lysine với 12,97 MJ ME/kg DM ở giai đoạn 5-8 tuần tuổi; 1,1% lysine với 13,81 MJ ME/kg DM ở giai đoạn 9-12 tuần tuổi), làm sáng tỏ quy luật tích lũy nitơ và tiêu hóa dưỡng chất theo lứa tuổi.
    4. Cung cấp dẫn liệu khoa học so sánh phương pháp tiêu hóa chất thải toàn phần và tiêu hóa dịch hồi tràng trên vịt Xiêm địa phương, chứng minh tỷ lệ tiêu hóa acid amin đo ở phân thải cao hơn ở hồi tràng do ảnh hưởng chuyển hóa của hệ vi sinh vật manh tràng.
    5. Đánh giá định lượng ảnh hưởng của tính lưỡng hình giới tính và hiệu quả của phương thức nuôi tách 2 giai đoạn tuổi so với phương thức nuôi 1 giai đoạn kéo dài.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

    • Khuyến cáo người chăn nuôi tại tỉnh Trà Vinh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng quy trình nuôi vịt Xiêm địa phương theo 2 giai đoạn sinh trưởng tách biệt (5-8 tuần tuổi và 9-12 tuần tuổi) với các mức ME, CP, lysine, threonine đã được kiểm chứng nhằm tối đa hóa năng suất thịt và tỷ lệ nạc quầy thịt.
    • Áp dụng phương thức phân lô nuôi tách riêng con trống và con mái từ 5 tuần tuổi trở đi nhằm đáp ứng sát nhu cầu dinh dưỡng và gia tăng lợi nhuận chăn nuôi.
    • Các cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương (Sở Nông nghiệp, Phòng Nông nghiệp, Trạm Thú y) cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật về phòng chống dịch bệnh và quản lý chất lượng con giống vịt Xiêm Trâu tại chỗ để phát triển đàn vịt bản địa bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Dữ liệu điều tra hiện trạng nông hộ chỉ tập trung tại 12 xã thuộc 3 huyện trọng điểm của tỉnh Trà Vinh, chưa bao quát toàn bộ các vùng sinh thái khác nhau của Đồng bằng sông Cửu Long. Các thí nghiệm dinh dưỡng chuyên sâu mới chỉ tập trung trên vịt Xiêm địa phương giai đoạn nuôi thịt từ 5 đến 12 tuần tuổi, chưa khảo sát thực nghiệm nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn vịt con nuôi úm (từ 0 đến 4 tuần tuổi). Thí nghiệm tiêu hóa chỉ mới đánh giá ở hai thời điểm sinh lý 8 tuần và 10 tuần tuổi.

  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng trao đổi và các acid amin thiết yếu cho vịt Xiêm địa phương trong giai đoạn từ 0 đến 4 tuần tuổi để hoàn thiện toàn bộ chu trình dinh dưỡng đời cá thể. Khảo sát sâu hơn về nhu cầu của các acid amin giới hạn khác như methionine, tryptophan và arginine. Nghiên cứu ứng dụng quy mô lớn các nguồn phụ phẩm công nông nghiệp địa phương (bã bia, bã đậu nành, phụ phẩm cá tra) phối trộn theo các định mức ME, lysine, threonine đã xác lập để hạ giá thành sản xuất trong điều kiện nông hộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Luận án cung cấp mô hình thực nghiệm hoàn chỉnh về dinh dưỡng gia cầm thủy cầm; là tài liệu chuẩn về phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng, kỹ thuật phẫu thuật thu dịch ruột kết hợp chất chỉ thị Cr2O3 và phương pháp cân bằng nitơ trên gia cầm sống.
  • Đối với giảng viên và chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi: Dẫn liệu chi tiết tại Chương 3 và Chương 4 cung cấp hệ số tiêu hóa của từng acid amin, bảng thành phần hóa học của nguyên liệu thức ăn và các công thức khẩu phần cân đối theo mô hình protein lý tưởng.
  • Đối với cán bộ khuyến nông và người chăn nuôi gia cầm: Cung cấp trực tiếp các thông số kỹ thuật (mức ME, CP, lysine, threonine) và phương thức nuôi tách giai đoạn để xây dựng quy trình chăn nuôi vịt Xiêm thịt đạt hiệu quả kinh tế cao nhất tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) tối ưu cho vịt Xiêm địa phương trong từng giai đoạn nuôi thịt được luận án xác định là bao nhiêu?
    Trả lời: Ở giai đoạn 5-8 tuần tuổi, khẩu phần tối ưu có mức ME là 12,97 MJ/kg DM kết hợp 18% CP (trong thí nghiệm năng lượng) hoặc 19% CP (trong thí nghiệm acid amin). Ở giai đoạn 9-12 tuần tuổi, khẩu phần tối ưu là 13,81 MJ/kg DM ME kết hợp 16% CP (hoặc 17% CP), giúp vịt đạt khối lượng cuối cao nhất, phẩm chất thân thịt tốt và hiệu quả kinh tế cao (P < 0,05).

  2. Mức lysine và threonine tối ưu được khuyến cáo cho vịt Xiêm địa phương từ 5 đến 12 tuần tuổi là bao nhiêu?
    Trả lời: Giai đoạn 5-8 tuần tuổi yêu cầu mức threonine là 0,80% và lysine là 1,20% trong khẩu phần. Giai đoạn 9-12 tuần tuổi yêu cầu mức threonine là 0,60% và lysine là 1,10% (kết hợp mức ME 13,81 MJ/kg DM).

  3. Kết quả thực nghiệm cho thấy tỷ lệ tiêu hóa acid amin giữa phương pháp thu chất thải toàn phần và phương pháp dịch hồi tràng khác nhau như thế nào?
    Trả lời: Luận án phát hiện tỷ lệ tiêu hóa của hầu hết các acid amin khảo sát đo bằng phương pháp thu chất thải toàn phần đều cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với phương pháp đo tại dịch hồi tràng. Điều này phản ánh sự phân giải và chuyển hóa của hệ vi sinh vật sống trong manh tràng gia cầm đã làm sai lệch lượng acid amin thực tế thải ra từ thức ăn thừa.

  4. Khả năng tiêu hóa dưỡng chất và tích lũy nitơ của vịt Xiêm địa phương thay đổi thế nào giữa 8 tuần tuổi và 10 tuần tuổi?
    Trả lời: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của các dưỡng chất (ngoại trừ xơ thô), hầu hết các acid amin cũng như tỷ lệ nitơ tích lũy/nitơ tiêu thụ của vịt Xiêm địa phương ở giai đoạn 8 tuần tuổi đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với giai đoạn 10 tuần tuổi, chứng minh hệ thống cơ quan tiêu hóa của vịt ngày càng hoàn thiện theo lứa tuổi.

  5. Phương thức nuôi phân tách 2 giai đoạn mang lại ưu thế gì so với phương thức nuôi 1 giai đoạn liên tục?
    Trả lời: Phương thức nuôi tách 2 giai đoạn (5-8 tuần tuổi và 9-12 tuần tuổi với khẩu phần dinh dưỡng chuyên biệt) cho mức tăng khối lượng, chất lượng thân thịt và hiệu quả kinh tế cao hơn có ý nghĩa so với phương thức cho vịt ăn một loại khẩu phần duy nhất từ 5 tuần tuổi cho đến khi giết thịt. Đồng thời, nuôi tách riêng giới tính giúp vịt trống phát huy tối đa tiềm năng tăng trọng vượt trội so với vịt mái.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thùy Linh đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác lập cơ sở khoa học về nhu cầu năng lượng trao đổi, protein thô, lysine và threonine cho giống vịt Xiêm địa phương nuôi thịt qua 5 nội dung nghiên cứu thực nghiệm chặt chẽ. Kết quả công trình đã chỉ rõ khẩu phần tối ưu theo từng thời kỳ sinh trưởng (5-8 tuần tuổi cần 12,97 MJ ME/kg DM, 18-19% CP, 1,2% lysine, 0,8% threonine; 9-12 tuần tuổi cần 13,81 MJ ME/kg DM, 16-17% CP, 1,1% lysine, 0,6% threonine), đồng thời chứng minh hiệu quả vượt trội của phương thức nuôi tách riêng hai giai đoạn sinh trưởng và phân loại theo giới tính. Đây là công trình nghiên cứu hệ thống, cung cấp hệ số tiêu hóa hồi tràng và chất thải có độ tin cậy cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện quy trình chăn nuôi vịt Xiêm bản địa tại tỉnh Trà Vinh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.