Chương 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Chương 3. Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
8 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nghề Trong đời sống xã hội từ trước đến nay, một khái niệm luôn được nhắc đến đó là khái niệm “nghề”. Khái niệm “nghề” thường được định nghĩa theo nhiều quan điểm, nhiều góc nhìn khác nhau.
Mỗi quốc gia lại có những định nghĩa, khái niệm mới về “nghề”, chẳng hạn như: Ở Nga, khái niệm nghề được định nghĩa: “Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn” [16]. Ở Anh, khái niệm nghề được định nghĩa: “Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật” [16]. Ở Đức, khái niệm nghề được định nghĩa: “Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực hoạt động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó” [16]. Nhìn chung, mỗi quốc gia lại đưa ra khái niệm về “nghề” khác nhau nhưng tựu chung lại ta có thể hiểu “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là tổng hợp kiến thức và kĩ năng trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm trong lao động mà một người lao động cần có để thực hiện một loạt hoạt động cụ thể trong một lĩnh vực lao động nhất định” [16].
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử gắn liền với sự phân công lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh của nhân loại. Đây là một hoạt động hoặc công việc mà người ta thường thực hiện để kiếm sống, lo cho cuộc sống bản thân, gia đình hoặc đóng góp vào xã hội. Nghề có thể liên quan đến kỹ năng, chuyên môn hoặc có thể là công việc hàng ngày 9 mà mọi người thực hiện để duy trì cuộc sống. Nghề nghiệp đa dạng và phong phú, được phân loại thành nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, nông nghiệp, công nghiệp và nhiều lĩnh vực khác.
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về “nghề” được đưa ra song chưa thống nhất. Ví dụ như “Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội” [16]. Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề được hiểu là “một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” [22].
Theo chương trình hướng nghiệp VIE Thanh niên thì “nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội [21; tr. Mặc dù khái niệm “nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau, song ta thấy có thể thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất định như sau: Nghề là một lĩnh vực hoạt động mà trong đó người làm nghề được đào tạo những tri thức, kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay dịch vụ tinh thần nào đó đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nghề là một hoạt động lao động mà nhờ được đào tạo, giáo dục, rèn luyện, con người có được những kiến thức, những hiểu biết cùng với những kỹ năng để tạo ra các sản phẩm vật chất hay tinh thần từ đó đáp ứng được những nhu cần thiết của xã hội. Khái niệm “nghề” có thể được hiểu và diễn giải theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh và góc độ.
10 Thứ nhất là nghề nghiệp: đây là một công việc hoặc sự nghiệp mà một người theo đuổi trong suốt cuộc đời. Nghề nghiệp có thể liên quan đến đào tạo, học vấn và thường có lịch sử phát triển dài hạn. Thứ hai là nghề nghiệp và nghề nghiệp tự do: một phân biệt quan trọng là giữa nghề nghiệp mà bạn thường cần có bằng cấp hoặc đào tạo chuyên môn (như luật sự, bác sĩ) và nghề nghiệp tự do mà bạn có thể thực hiện mà không cần quyền hạn chuyên môn cụ thể (như thợ điện, thợ sửa ống nước). Thứ ba là nghề làm: đây là một công việc thường xuyên mà bạn làm để kiếm sống hoặc duy trì cuộc sống hàng ngày.
Thứ tư là nghề nghiệp và sở thích: nghề cũng có thể liên quan đến sở thích cá nhân của một người. Ví dụ, làm việc trong lĩnh vực bạn đam mê có thể được coi là “nghề” của bạn. Thứ năm là nghề nghiệp và vai trò xã hội: nghề có thể đóng vai trò quan trọng trong xã hội và văn hóa, đóng góp vào sự phát triển và cơ cấu của xã hội. Ví dụ, giáo viên và bác sĩ đều có vai trò xã hội quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Nói tóm lại, cách hiểu về “nghề” có thể thay đổi tùy thuộc vào ngữ cảnh và góc độ cá nhân của mỗi người. Đào tạo nghề Đào tạo là một khái niệm có nội hàm rộng, thường được hiểu là quá trình truyền đạt kiến thức, kỹ năng và giáo dục cho người học, nhằm phát triển năng lực và khả năng của họ. Đào tạo có thể diễn ra ở nhiều cấp độ và trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục cơ bản đến đào tạo nghề, đào tạo quân sự, đào tạo doanh nghiệp, và nhiều loại đào tạo chuyên sâu khác. Có nhiều khái niệm, định nghĩa về “đào tạo”.
Ví dụ như, theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách 11 có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách” [10].TSKH Nguyễn Minh Đường - Viện khoa học giáo dục Việt Nam: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả” [10]. Như vậy, đào tạo là sử dụng những chương trình, kỹ năng thực hành, hay những chương trình kiến thức liên quan đến một lĩnh vực nào đó nhằm mục đích giúp người được đào tạo nắm được những kiến thức cơ bản phục vụ công việc, nghề nghiệp của mình. Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm đào tạo sẽ được hiểu theo phạm vi hẹp hơn là “đào tạo nghề” hay có thể dùng từ khác đó là “dạy nghề”.
Kiến thức và kỹ năng nghề của người lao động đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu suất làm việc. Do đó, việc huấn luyện và phát triển kỹ năng nghề không chỉ là quan trọng đối với cá nhân lao động mà còn ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp và cả thị trường lao động. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời nâng cao chất lượng công việc và hiệu quả trong môi trường làm việc nói chung. Theo Luật Dạy nghề năm 2006, thì ĐTN hay còn được gọi là dạy nghề là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn tất khóa học” [13; tr.
Theo Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề nghiệp được hiểu “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi 12 hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [14; tr. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: “ĐTN là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó và sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới”. Trong chương IV của Bộ Luật lao động năm 2019 quy định về giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề thì đào tạo nghề nghiệp được hiểu là quá trình giảng dạy, đào tạo cho người lao động những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để đáp ứng những nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Người lao động được tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp, tham gia đánh giá, công nhận kỹ năng nghề quốc gia, phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu việc làm và khả năng của mình [15; tr.
Có thể thấy, ĐTN được hiểu là quá trình giáo dục và học tập nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, và thái độ nghề nghiệp cần thiết để học viên có thể tìm kiếm việc làm phù hợp hoặc tự tạo nghề sau khi hoàn thành khóa học, hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động không chỉ là một yêu cầu cấp bách mà còn mang tính chiến lược lâu dài trong bối cảnh sự phát triển ngày càng sâu rộng với tốc độ cao của khoa học và công nghệ.