Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, hình thức đào tạo nghề a.
Khái niệm đào tạo nghề Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ có khái niệm về dạy nghề, chưa có khái niệm về đào tạo nghề. Tuy nhiên trong thực tế sử dụng, hai từ này chưa có sự phân biệt rõ ràng, đôi khi vẫn được sử dụng thay thế cho nhau và người đọc vẫn hiểu theo một nghĩa. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 5 Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11. “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [11] - Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề, kỹ năng của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và tương lai.
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội thì: “Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”.[12] “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”[5] Như vậy, các khái niệm trên đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao 6 động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn nhân lực, coi công nhân như cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiến tiến hiện nay. Thực tế, trong các văn bản pháp quy chính thức, cũng như trong đời sống xã hội, các thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” được dùng khá phổ biến, còn thuật ngữ “đào tạo lao động kỹ thuật” chỉ mới xuất hiện gần đây. Đây cũng chính là bước phát triển mới về tư duy nhằm làm rõ hơn và nâng lên tầm cao mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp so với quan niệm truyền thống trước đây coi đào tạo nghề chỉ là đào tạo lực lượng lao động chân tay, mang tính cơ bắp, trong quá trình lao động chủ yếu sử dụng lao động cơ bắp của con người.
Quan niệm này về dạy nghề không còn phù hợp với nền sản xuất hiện đại. Khái niệm dạy nghề theo quan niệm mới phải phù hợp với điều kiện kỹ thuật- công nghệ phát triển, sử dụng trong sản xuất ngày càng phổ biến hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, tự động hoá. Bới vậy, thực chất hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo định hướng mới là hệ thống đào tạo lao động kỹ thuật trong thời kỳ mới. Hệ thống này có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác.
Và như vậy, khái niệm dạy nghề hoặc đào tạo nghề là những khái niệm được sử dụng theo quan niệm truyền thống và có ý nghĩa hạn hẹp, không hàm chứa được bản chất và các nội dung mới của đào tạo nghề nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và Hội nhập của phát triển nền kinh tế tri thức. Hiện nay chúng ta phải thống nhất dùng khái niệm “đào tạo lao động kỹ thuật” thay thế cho khái niệm “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” trong các văn bản pháp qui và trong đời sống xã hội. Trong trường hợp còn sử dụng thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” thì phải hiểu với nội dung mới, đó là “đào tạo lao động kỹ thuật” trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành. 7 Như vậy, quan niệm đào tạo nghề của tác giả đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế.
Đào tạo nghề gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: (i) Dạy nghề là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng thành thục nhất định về nghề nghiệp. (ii) Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Hình thức đào tạo nghề Các hình thức đào tạo nghề bao gồm: - Đào tạo ngắn hạn (Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng): Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên… - Đào tạo dài hạn (Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề): Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.
Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. - Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề). - Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề song vì lý do nào đó, kiến thức và kỹ năng của họ không còn phù hợp nữa, không còn đáp ứng được trước những thay đổi của công nghệ mới hay của thị trường. 8 - Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn.
Đào tạo nghề được phân thành các cấp đào tạo khác nhau. Các cấp trình độ đào tạo nghề bao gồm mức độ phức tạp của lao động và năng lực thực hiện nghề nghiệp. Các cấp trình độ đào tạo nghề là sự phân hóa mục tiêu đào tạo nghề theo chiều sâu. Các cấp trình độ đào tạo nghề được hình thành từ sắp xếp các cấp trình độ theo hệ thống từ đơn giản đến phức tạp: - Công nhân bán lành nghề: công nhân tại cấp độ này thực hiện các hoạt động có tính lặp lại, và thực hiện công việc được phân công khi có người giám sát.
- Công nhân lành nghề: công nhân tại cấp độ này có thể làm việc trong những điều kiện phù hợp với các tiêu chuẩn nhất quán. Nhiệm vụ của họ là biết thực hiện công việc một cách độc lập, quyết định quy trình làm việc theo các tiêu chuẩn hiện hành. - Công nhân lành nghề trình độ cao: công nhân tại cấp độ này có thể thực hiện công việc với kỹ năng cao. Họ có năng lực giải quyết các vấn đề, ra quyết định, giúp đỡ công nhân bậc thấp hơn, biết một nghề khác ở mức độ trung bình.
Trong một số ngành nghề, công nhân phải có trình độ kỹ thuật viên (kiến thức tương đương với kỹ sư thực hành). Kỹ thuật viên hay trình độ lành nghề cao là yêu cầu khách quan nhằm thích ứng với những biến động nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Đây cũng là nguồn nhân lực chúng ta đang rất cần trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khái niệm quản lý đào tạo nghề Thực chất là quản lí các yếu tố sau theo một trình tự, qui trình vừa khoa học, vừa phù hợp với các điều kiện thực tế của cơ sở dạy nghề, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo.
Các yếu tố đó là: 9 + Mục tiêu đào tạo nghề + Nội dung đào tạo nghề + Hình thức tổ chức đào tạo nghề + Hoạt động dạy nghề (chủ thể là thầy, cô giáo) + Hoạt động học nghề (chủ thể là học trò) + Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề + Môi trường đào tạo nghề + Tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo nghề trong kiểm tra, đánh giá + Tổ chức bộ máy đào tạo nghề Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau. Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý đào tạo nghề cần tiến hành các bước theo quy trình như quản lí giáo dục, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá. Trong quản lý công tác đào tạo các yếu tố trên luôn luôn vận động và tác động qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lý. Do vậy, nhà quản lí phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lý các sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục, đào tạo và nhà trường phát triển liên tục.
Nhiệm vụ của quản lý đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế a. Khái niệm cơ cấu kinh tế Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện một chức năng của chỉnh thể. Cơ cấu là một phạm trù triết học thể hiện cấu trúc bên trong cũng như tỉ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một hệ thống.