CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Hoạt động dạy nghề phổ thông là một trong bốn mặt hoạt động của công tác giáo dục lao động - kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông nhằm mục đích sử dụng hợp lý học sinh khi tốt nghiệp ra trường, giúp công tác phân luồng học sinh cân đối hơn giữa hai hệ thống giáo dục hiện nay của nước ta là hệ thống giáo dục nghề nghiệp và hệ thống giáo dục Đại học. Từng bước hướng đến thực hiện dạy nghề xã hội, đáp ứng nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn tại địa phương. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động dạy nghề phổ thông nói riêng, dạy học nói chung và đặc biệt là công tác quản lý hoạt động dạy học của nhà trường trong các giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
Có thể kể đến một số tác giả với những quan điểm và những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Về hoạt động dạy học, tác giả Thái Duy Tuyên với công trình “Giáo dục học hiện đại - những vấn đề cơ bản” đã đề cập đến nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học. Về quản lý giáo dục, tác giả Đặng Quốc Bảo với công trình “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”, tác giả đã cung cấp hệ thống các khái niệm về quản lý giáo dục, làm cơ sở để tiếp cận việc nghiên cứu QLGD. Công trình “Khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Kiểm đã đề cập đến những khái niệm, phương pháp luận, chức năng, nguyên tắc, phương pháp và công cụ quản lý giáo dục, cách tiếp cận hiện đại về quản lý giáo dục. e 7 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật ở trình độ sơ cấp và trung cấp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việc nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động giáo dục nghề phổ thông đã được các nhà giáo dục quan tâm bằng nhiều hoạt động chuyên môn như: Các hội thảo, hội nghị chuyên đề cấp Bộ GD&ĐT hay Sở GD&ĐT tổ chức; đó là Tổ chức giáo dục lao động - hướng nghiệp theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông (tháng 11 năm 2001); Đổi mới công tác giáo dục lao động - hướng nghiệp phục vụ cho yêu cầu CNH, HĐH đất nước (tháng 7 năm 2003); Các giải pháp phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông (Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2009). Gần đây, có một số luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành QLGD nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy và học nghề phổ thông như: - Nghiên cứu về một số biện pháp quản lý hoạt động dạy và học nghề phổ thông ở trung tâm KTTH – HN Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây của tác giả Nguyễn Đình Đạo, năm 2005.[16] - Nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An của tác giả Nguyễn Chiến Thắng, năm 2010.[35] - Trong tỉnh Bình Định nói chung và huyện Tây Sơn nói riêng có luận văn thạc sĩ QLGD nghiên cứu về vấn đề liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu; đó là: Nghiên cứu về “Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại trung tâm giáo dục thường xuyên hướng nghiệp Qui Nhơn, tỉnh Bình Định ” của tác giả Nguyễn Tiến Phương, năm 2014. Tuy trùng về lĩnh vực nghiên cứu nhưng em xin chọn lĩnh vực này để làm đề tài nghiên cứu của mình vì đề tài liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu (khác đối tượng, địa bàn ) và đơn vị đang công tác. e 8 Hy vọng rằng với kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ có những đóng góp hữu ích để làm tốt công tác quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở trung tâm GDNN-GDTX huyện Tây Sơn, đáp ứng yêu cầu chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay, góp phần quan trọng vào phát triển Kinh tế - Xã hội tại địa phương.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý Có nhiều cách trình bày khái niệm quản lý của các nhà khoa học: - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12; tr1]. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [26; tr24]. - Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [2; tr17].
- Theo tác giả Trần Quốc Thành thì: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan” [33]. Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu như sau: - Hoạt động của quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý. e 9 - Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, theo chúng tôi: quản lý một tổ chức là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra. * Bản chất quản lý và một số đặc trưng của hoạt động quản lý: - Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả như mong muốn. - Mục tiêu của quản lý: là tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi người có thể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. - Đối tượng của quản lý: là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý.
- Trong một hệ thống, hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vi mô cũng như vĩ mô, góp phần quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả vận hành của hệ thống. Trong hệ thống, quá trình tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý vừa làm biến đổi khách thể, vừa tạo ra cái mới. - Quản lý là một nghề. - Quản lý có hai thuộc tính cơ bản là tính tổ chức - kỹ thuật và tính KT-XH.
- Lao động quản lý là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là điều kiện quan trọng để làm cho mỗi tổ chức, mỗi hệ thống cũng như cả xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Bản thân hoạt động quản lý cũng mang tính hệ thống với các thành tố: chủ thể quản lý, công cụ quản lý, phương pháp quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý; các thành tố đó quan hệ với nhau theo sơ đồ sau: e 10 MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ Công cụ QL Mục tiêu Chủ thể QL Đối tượng QL quản lý Phương pháp QL Sơ đồ 1.1: Mô hình hoạt động quản lý Trong đó: + Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một tổ chức. + Công cụ quản lý là phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến khách thể quản lý; có thể là mệnh lệnh, là quyết định, là các văn bản luật, là chính sách, chương trình mục tiêu… + Phương pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý, nó phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thống, đặc điểm của các thành tố trong hệ thống mà chủ thể quản lý có trách nhiệm quản lý; phương pháp quản lý thể hiện phẩm chất và năng lực của chủ thể quản lý. + Mục tiêu quản lý là cái đích cần đến của cả hệ thống (trạng thái mong muốn của hệ thống).
Mục tiêu đó có thể do chủ thể quản lý đề ra, cũng có thể là sự thống nhất, cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý (là các thành viên còn lại trong tổ chức). Quản lý giáo dục Giống như khái niệm QL, khái niệm QLGD cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Khi hoạt động giáo dục ra đời, tất yếu kéo theo sự xuất hiện của QLGD. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3, tr3].
e 11 Theo tác giả Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể QL đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” Tác giả Trần Kiểm chia QLGD thành 2 cấp độ vi mô và vĩ mô. QLGD cấp vĩ mô là QL nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục; QL vi mô là QL nhà trường [22, tr36]. Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể thấy rõ 4 yếu tố của QLGD, đó là chủ thể QL, đối tượng bị QL, khách thể QL và mục tiêu QL. Như vậy, ta có thể hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL, nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu đã đề ra.