phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông tỉnh Đăk Lăk trong thời gian qua. - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông tỉnh Đăk Lăk trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ngay từ khi bắt đầu xây dựng nhà nƣớc Xã hội chủ nghĩa, V.
Lênin đã rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Ngƣời viết: “Chúng ta phải làm cho giáo viên ở nƣớc ta có một vị trí mà trƣớc đây học chƣa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có trong xã hội tƣ bản”. Lênin yêu cầu phải: Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của giáo viên… những điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ. Ở các nƣớc phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lƣợng giáo viên cũng đƣợc đạt ra theo yêu cầu của sự phát triển giá o dục - đào tạo và nhu cầu tăng trƣởng kinh tế.
Vì thế nhiều nƣớc rất quan tâm đến chất lƣợng đội ngũ giáo viên. Công trình nghiên cứu của các thành viên OECD đã yêu cầu các giáo viên cần có các phẩm chất: 4 (1) Kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và nội dung bộ môn mình dạy; (2) Kỹ năng sƣ phạm, kể cả việc có đƣợc kho kiến thức về phƣơng pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; (3) Có tƣ duy phản ánh trƣớc mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trƣng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; (5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Trong báo cáo tại hội thảo ASD Anmidele năm 1985 – do UNESCO tổ chức đã khẳng định vai trò của ngƣời giáo viên trong thời đại mới là ngƣời thiết kế, nguời tổ chức, nguời cổ vũ, nguời cách tân. Vì vậy phải nâng cao chất lƣợng của ngƣời giáo viên nhƣ: (1) Các chƣơng trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phƣơng pháp giảng dạy mới nhất; (2) Giáo viên phải đƣợc đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là ngƣời thợ dạy; (3) Việc dạy học phải thích nghi với nguời học chứ không phải buộc ngƣời học phải tuân theo những quy định đặt sẵn từ trƣớc theo thông lệ cổ truyền.
Tháng 4 – 2002, tại Dakar Senégal, “Diễn đàn gi áo dục cho mọi ngƣời” do UNESCO tổ chức đã coi chất lƣợng giáo viên là một trong mƣời yếu tố cấu thành chất lƣợng giáo dục. Nhiều nghiên cứu khác cũng đã bàn về các vấn đề nhƣ: Quan niệm, nội dung, phƣơng thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của giáo viên … Ở Việt Nam, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã đƣợc Bác Hồ, Đảng và Nhà nƣớc ta hết sức quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy học “Các cô, các chú đã 5 thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần đƣợc nâng cao them mãi mới hoàn thành nhiệm vụ”. Suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó có viện nghiên cứu về vấn đề này.
Nhiều công trình đã đƣợc Bộ giáo dục – đào tạo trực tiếp chỉ đạo và chủ truơng đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông với việc thực hiện ba dự án: - Dự án “Phát triển giáo viên tiểu học” đƣợc triển khai từ năm 2002 đến năm 2006. Dự án tập trung giải quyết c ác vấn đề sau: (1) Nghiên cứu xây dựng chẩn giáo viên Tiểu học; (2) Nghiên cứu xây dựng các giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng sƣ phạm và các giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học; (3) Nghiên cứu chế độ chính sách đối với giáo viên tiểu học. Sau 4 năm thực hiện, dự án đã tổ chức biên soạn đƣợc 49 giáo trình các môn học đào tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng sƣ phạm, 40 giáo trình các môn học đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học và xây dựng chẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học. - Dự án “Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở” đựơc triển khai từ năm 2000 -2007.
Dự án này tập trung vào việc xây dựng chƣơng trình Cao đẳng sƣ phạm đào tạo giáo viên dạy hai môn. Dự án đã xây dựng đƣợc 304 giáo trình các môn học và biên so ạn 65 tài liệu hỗ trợ giảng viên các trƣờng cao đẳng sƣ phạm; tổ chức bồi dƣỡng đào tạo nguồn, đào tạo giáo viên trung học cơ sở ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. - Dự án “Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung học chuyên nghiệp” bắt đầu triển khai từ năm 2007 đến năm 2011. 6 Dự án này tập trung vào giải quyết các vấn đề đổi mới đào tạo giáo viên trung học phổ thông và giáo viên trung cấp chuyên nghiệp: nghiên cứu đề xuất đổi mời chƣơng trình đào tạo giáo viên THPT cho 17 trƣờng Đại học sƣ phạm; biên soạn tài liệu tập huấn cho đội ngũ giáo viên các trƣờng đại học sƣ phạm thực hiện triển khai chƣơng trình mới; biên soạn 30 bộ sách giáo trình cho một số ngành; biên soạn tài liệu và tổ chức tập huấn về chuyên môn và tăng cƣờng năng lục nghề nghiệp cho giáo viên THPT ở 13 tỉnh, thành phố; xây dựng bồi dƣỡng giáo viên tập sự, viết tài liệu tập huấn theo các môm học, xây dựng chuẩn nghề nghiệp….
Ba dự án về phát triển giáo viên phổ thông các cấp đã đem lại những kết quả nhất định, chất lƣợng đội ngũ giáo viên bƣớc đầu đƣợc cải thiện. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kì hội nhập thì đội ngũ giáo viên vẫn còn nhiều bất cập. Những vấn đề cả 3 dự án giải quyết chƣa mang tính cải cách và thiếu đồng bộ. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên còn đƣợc thực hiện dƣới góc độ quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô và vi mô.
Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dƣới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã đƣợc thực hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo; Nguyễn Thanh Bình; Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Nguyễn Thanh Hoàn; Trần Bá Hoành…Việc xây dựng đội ngũ giáo viên cũng đƣợc một số công trình nghiên cứu đề cập. Tại hội thảo khoa học “Chất lƣợng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do khoa sƣ phạm – Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả nhƣ: Trần Bá Hoành, Mai Trọng Thuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải…đã đề cập đến yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIÁO DỤC 1.
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
[5] Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. [25] Nhân lực, theo nghĩa đen chỉ là sức ngƣời. Sức ngƣời bao hàm cả sửc mạnh về vật chất và sức mạnh về tinh thần. Không nên hiểu sức ngƣời chỉ ở mặt tài mà nó còn bao hàm cả ở mặt đức, đó là cái gốc của con ngƣời.
Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dƣới nhiều góc độ khác khau, đó là : Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời và nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực, thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời với các nguồn lực khác. Thứ hai, với tƣ cách là nguồn lực của quá trình phát triển, thì nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, đƣợc biểu hiện ra ở số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. [5] Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con 8 ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển.
Nội dung của nó không chỉ bao hàm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. [5] Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con ngƣời. Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai.
Nguồn nhân lực là con ngƣời lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý nhƣ động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích luỹ kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống. Ở nƣớc ta, khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi từ những năm bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Có ý kiến cho rằng: “Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động.