Chương 1 Luật dạy nghề năm 2006. Mục tiêu dạy nghề: Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo [22]. Nhà giáo dục người Nga TraKhôan V.khẳng định: “Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước Xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất trong xí nghiệp” và nhấn mạnh “Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được”. UNESCO: Jacques Delors, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục”.Theo tác giả vấn đề học nghề của học sinh là một căn bản không thể thiếu được, đồng thời đã tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu về vấn đề “Gắn đào tạo với sử dụng” trong đào tạo nghề.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Ở Việt Nam, những năm gần đây các khoa học, giáo dục, đã tiếp cận nhiều đến vấn đề đào tạo nghề ở các khía cạnh khác nhau: Phạm Minh Hạc: Phân tích tình hình giáo dục và đào tạo nước ta và phương hướng đổi mới Giáo dục và Đào tạo đã xác định: Việc xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là “Nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ” Kết quả nghiên cứu của tác giả về con người trong công cuộc đổi mới “Con người là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thước đo của mọi bậc thang giá trị”. Mỗi thời đại mới đều được chuẩn bị tập trung vào vấn đề con người, chủ thể của lịch sử, chủ thể của mọi quá trình biến đổi xã hội. Phạm Tất Dong: Trong công trình khoa học của mình, đã điều tra: “Trong những người không kiếm ra việc làm, có 85,8% là thanh niên trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm, có 67,4% là không biết nghề”.
Trên cơ sở đó, tác giá xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để họ tự tìm ra việc làm”, đồng thời “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh vv. đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản”. Các công trình khoa học ở trong và ngoài nước đều quan tâm đến công tác đào tạo nghề, mục đích tạo cho con người dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, luận văn liên quan hoặc đề cập đến công tác quản lý đào tạo nghề như đề tài nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và tại cơ sở sản xuất”.
Luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý thực hành nghề và thực tập tốt nghiệp của học sinh trường Trung cấp nghề Kiên Giang” của tác giả Phạm Hoàng Minh. Luận án tiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 sĩ: “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện cho sinh viên sư phạm kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Ngọc Hùng. Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đã có những tác động tích cực đối với công tác quản lý đào tạo nghề, quản lý các hoạt động thực tiễn trong đào tạo nghề. Tuy nhiên các đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề quản lý giảng dạy, đào tạo là chủ yếu hoặc triển khai ứng dụng trong một lĩnh vực quá rộng.
Hoạt động học thực hành nghề là một phần của yêu cầu trong đào tạo nghề nhưng đóng vai trò then chốt trong quá trình đào tạo. Những công trình nghiên cứu về quản lý học thực hành nghề ở các trường đào tạo nghề ít được đề cập. Vì vậy “Quản lí hoạt động học thực hành nghề ở trường Trung cấp nghề Hà Giang” là vấn đề quan trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay. Những vấn đề lý luận về hoạt động học thực hành nghề 1.
Khái niệm hoạt động học thực hành nghề * Hoạt động học Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị. Hoạt động này chỉ có thể thực hiện ở một trình độ khi mà con người có được khả năng điều chỉnh những hoạt động của mình bởi một mục đích đã được ý thức. [96] Hoạt động học là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dưới sự dạy bảo, hướng dẫn của nhà giáo. Hoạt động học luôn luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động dạy của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy học trong lĩnh vực sư phạm.
[23; 201] Hoạt động học là quá trình hoạt động của HS trong đó HS dựa vào nội dung dạy học, vào sự chỉ đạo của GV mà tự chỉ đạo toàn bộ hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực của bản thân nhằm đạt tới mục tiêu dạy học. Nó là một hoạt động nhận thức độc đáo, thông qua hoạt động học mà người học chủ yếu thay đổi chính bản thân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan. Về bản chất hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình, nó được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đặc biệt tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động (cách học). * Thực hành: Theo tự điển Tiếng Việt, nghĩa khái quát thực hành là làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế.
Cụ thể học thực hành trong nhà trường, thực hành là bắt tay vào việc áp dụng thực sự lý thuyết đã học. * Kỹ năng nghề: Là việc biết thực hiện (biết làm) có kết quả những hành động thực tiễn bằng cách vận dụng tri thức để hình thành một năng lực nhất định đáp ứng yêu cầu của nghề tương ứng, kỹ năng nghề được hình thành nhờ quá trình tập luyện trong hoạt động nghề, bao gồm nhiều thao tác nghề theo cấu trúc của hoạt động. Kỹ năng nghề không phải là một hành động bình thường, tự nhiên mà là hành động đòi hỏi phải vận dụng tri thức khoa học, chủ yếu là khả năng hiểu biết tri thức khoa học về nghề, khả năng thực hiện những thao tác nghề. Nó là một thành phần cơ bản tạo nên năng lực nghề đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực hoạt động nghề cụ thể trong cuộc sống.
Ở đây ta thấy mối quan hệ giữa kỹ năng nghề với năng lực nghề, nó là một thành phần cơ bản tạo nên năng lực đáp ứng yêu cầu của nghề nhất định, là cái tạo ra năng lực thực tiễn của hoạt động nghề. Muốn hình thành kỹ năng, con người phải luyện tập theo một quy trình nhất định theo các mức độ từ đơn giản đến phức tạp với một số giai đoạn khác nhau: 1. Mức độ bắt chước: Hành động theo mẫu, khi điều kiện làm việc thay đổi thì gặp nhiều sai sót hoặc không hoàn thành nhiệm vụ; 2. Mức độ làm được: Hiểu nhiệm vụ cũng như quy trình làm việc nhưng còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn; 3.
Mức độ chính xác: Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Mức độ tự động hóa: Kỹ năng tự động hóa, trên cơ sở đó hình thành kỹ năng khác cao hơn; 5. Mức độ biến hóa: Là khả năng di chuyển kỹ năng sang các tình huống mới hoặc hình thành các kỹ năng phức tạp. Các mức độ trên được biểu hiện qua các phẩm chất: Tính chính xác; Tốc độ thực hiện hành động; Khả năng độc lập để thực hiện công việc; Tính linh hoạt: thể hiện khả năng hành động hợp lý trong các hoàn cảnh khác nhau (Quan niệm về chất lượng đào tạo nghề được nhiều người thừa nhận là phải nhấn mạnh vào khả năng thích ứng của sức lao động); Sự lựa chọn các phương tiện và điều kiện làm việc.
Nắm được sự hình thành kỹ năng để quản lý hoạt động học THN của HS là điều cần thiết và quan trọng đối với nhà quản lý và đặc biệt là các trường đào tạo nghề.Lêvitôv, để hình thành kỹ năng con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn chia thành hai bước tương ứng với hai trình độ kỹ năng khác nhau: Kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phát triển (phức tạp). Kỹ năng sơ đẳng được biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc thực hiện có kết quả các động tác cần thiết; kỹ năng phức tạp là kỹ năng phát triển ở giai đoạn cao hơn, nó được hình thành trong quá trình vận dụng những tri thức, hiểu biết vào thực tiễn và được tập luyện dần dần trở thành kỹ xảo ngày càng hoàn thiện. Theo chúng tôi, kỹ năng nghề của học sinh trong đào tạo là mức độ kỹ năng nghề đạt được trong quá trình học THN.
Trong quá trình này, lúc đầu kỹ năng nghề của học sinh chỉ đạt ở mức sơ đẳng, làm theo mẫu, thực hiện các kỹ năng chưa thành thạo và chỉ thực hiện kỹ năng trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định với những đối tượng nhất định. Sau đó, qua nhiều lần luyện tập, việc thực hiện các kỹ năng sẽ đạt ở mức thành thạo, học sinh đã có thể thực hiện một cách chủ động các kỹ năng nghề trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Đặc biệt một số hành động được củng cố và tự động hóa thành kỹ xảo trong quá trình luyện tập và hoạt động nghề nghiệp sau này.