Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn đóng vai trò quyết định đến sự phát triển bền vững của các địa phương. Tại tỉnh Kiên Giang—địa bàn có diện tích tự nhiên 6.348,53 km² với 15 đơn vị hành chính cấp huyện, đường bờ biển dài hơn 200 km và hơn 140 hòn đảo—lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Giai đoạn 2012–2016, việc triển khai Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã tạo bước ngoặt quan trọng khi đào tạo và cấp chứng chỉ cho 55.034 học viên, trong đó có 46.230 người có việc làm, đạt tỷ lệ 84%. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn như khảo sát nhu cầu còn mang tính hình thức, mạng lưới đào tạo phân bổ chưa đồng đều giữa các tiểu vùng và thiếu sự gắn kết chặt chẽ với thị trường sử dụng lao động của doanh nghiệp. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Nguyễn Hữu Trí, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Thị Minh Tuyết tại Học viện Hành chính Quốc gia (năm 2017), tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Kiên Giang giai đoạn 2012–2016. Nghiên cứu xác lập hệ thống mục tiêu kép: đánh giá chính xác hiệu lực, hiệu quả quản lý công và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management) và Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) làm nền tảng lý luận xuyên suốt. Quản lý công mới nhấn mạnh việc chuyển đổi từ nền hành chính mệnh lệnh sang quản trị theo kết quả đầu ra, coi người học nghề và doanh nghiệp là trung tâm thụ hưởng dịch vụ công. Đồng thời, lý thuyết vốn con người của Gary Becker khẳng định đầu tư vào kỹ năng và tri thức nghề nghiệp của người lao động là yếu tố then chốt gia tăng năng suất và thu nhập kinh tế. Ba khái niệm cốt lõi được định hình gồm: Quản lý nhà nước về đào tạo nghề (sự tác động có tổ chức bằng quyền lực công nhằm duy trì trật tự và phát triển hệ thống dạy nghề), Lao động nông thôn (công dân từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ sinh sống tại khu vực nông thôn), và Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng thực hành với thời gian từ 3 tháng đến dưới 1 năm). Thể chế đào tạo nghề được soi chiếu qua hệ thống văn bản pháp lý chủ đạo như Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015, Nghị định số 70/2009/NĐ-CP và Quyết định số 1956/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực tiễn. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2012–2016 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang, Tổng cục Dạy nghề và Niên giám thống kê tỉnh. Để bổ trợ, dữ liệu sơ cấp được thu thập với cỡ mẫu n = 350 đối tượng, gồm 280 lao động nông thôn đã qua đào tạo và 70 cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề tại 15 huyện, thị xã, thành phố. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện tối ưu theo 4 tiểu vùng kinh tế đặc thù: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, U Minh Thượng và vùng Biển đảo. Tác giả áp dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh định lượng và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Hàn Quốc) cũng như các địa phương tiêu biểu (Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để phản ánh chân thực các mối tương quan định lượng giữa quy mô ngân sách, chất lượng đội ngũ giảng viên với tỷ lệ có việc làm sau đào tạo của người học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề đạt mức tăng trưởng ấn tượng với 55.034 lao động nông thôn được cấp chứng chỉ trong giai đoạn 2012–2016. Tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo đạt 84% (tương đương 46.230 lao động), vượt mục tiêu 70% được đề ra trong Đề án 1956 của Chính phủ.

Thứ hai, cơ cấu giải quyết việc làm sau đào tạo bộc lộ sự mất cân đối sâu sắc. Trong tổng số 46.230 lao động có việc làm, có tới 40.346 người là tự tạo việc làm tại chỗ (chiếm tỷ lệ 87,27%), trong khi số lao động được doanh nghiệp và các đơn vị tuyển dụng trực tiếp chỉ đạt 3.578 người (chiếm 7,74%), số được bao tiêu sản phẩm là 1.643 người (chiếm 3,55%), và chỉ có 663 lao động tham gia thành lập tổ hợp tác hoặc hợp tác xã (chiếm 1,44%).

Thứ ba, bộ máy quản lý nhà nước bước đầu được kiện toàn khi 100% các huyện, thị xã, thành phố (15/15 đơn vị) đã bố trí 01 biên chế chuyên trách đào tạo nghề thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, năng lực dự báo cung - cầu thị trường lao động tại cấp cơ sở vẫn còn yếu và mang tính hình thức.

Thứ tư, nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề ở các trung tâm cấp huyện còn dàn trải, chưa theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ của các ngành kinh tế trọng điểm.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ tự tạo việc làm chiếm tới 87,27% phản ánh nỗ lực tự thân của người nông dân trong việc áp dụng kỹ thuật mới vào canh tác lúa, nuôi trồng thủy sản và thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp khiêm tốn ở mức 7,74% chỉ ra rằng mô hình liên kết "3 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) tại Kiên Giang chưa thực sự vận hành hiệu quả. So sánh với thành phố Cần Thơ—nơi đã huy động 37 doanh nghiệp tham gia đào tạo và nhân rộng thành công 54 mô hình điểm giúp 72,47% lao động có việc làm gắn với khu công nghiệp và dịch vụ—Kiên Giang vẫn chưa khai thác hết dư địa chuyển dịch lao động phi nông nghiệp.

Để trực quan hóa các phát hiện trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn (Pie chart) minh họa cơ cấu 4 nhóm việc làm sau đào tạo và bảng tổng hợp ma trận so sánh kết quả thực hiện Đề án 1956 giữa 4 tiểu vùng kinh tế của tỉnh. Việc mô hình hóa qua các bảng biểu này giúp các nhà quản lý thấy rõ sự chênh lệch về hiệu quả dạy nghề giữa vùng nông nghiệp truyền thống và các vùng kinh tế động lực như Phú Quốc hay Rạch Giá. Học tập kinh nghiệm từ Hàn Quốc—quốc gia thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động 10–13%/năm nhờ đào tạo kỹ năng đón đầu công nghệ—Kiên Giang cần chuyển mạnh từ đào tạo theo chỉ tiêu hành chính sang đào tạo theo đơn đặt hàng thực tế của thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và cụ thể hóa thể chế, chính sách đào tạo nghề. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần xây dựng quy chế phối hợp bắt buộc giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động, phấn đấu nâng tỷ lệ học viên được doanh nghiệp cam kết tuyển dụng hoặc bao tiêu sản phẩm lên tối thiểu 25% vào năm 2020.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề. Cần tổ chức chuẩn hóa nghiệp vụ quản lý cho 100% cán bộ chuyên trách tại 15 huyện, thị xã, thành phố trong giai đoạn 2018–2020; đồng thời bồi dưỡng kỹ năng sư phạm dạy nghề cho ít nhất 300 nghệ nhân, thợ giỏi và kỹ sư nông nghiệp để bổ sung nguồn giáo viên thỉnh giảng thực hành.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa. Hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh cần ưu tiên phân bổ ngân sách tăng thêm 15–20% cho việc mua sắm trang thiết bị thực hành hiện đại; ban hành cơ chế ưu đãi thuế và đất đai nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề chất lượng cao tại 4 tiểu vùng kinh tế.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá chất lượng đầu ra. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các ban ngành tiến hành kiểm tra định kỳ tối thiểu 2 lần/năm đối với 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp, kiên quyết xử lý nghiêm các hiện tượng mở lớp hình thức, chạy theo chỉ tiêu số lượng, đảm bảo tỷ lệ lao động có việc làm đúng nghề đạt trên 85% sau tốt nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân 15 huyện/thành phố thuộc Kiên Giang và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long) nhằm ứng dụng khung giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị công.

Thứ hai, ban giám hiệu và đội ngũ quản lý tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp và cao đẳng nghề để đổi mới chương trình khung, điều chỉnh tỷ lệ thực hành và phương thức liên kết tuyển sinh cùng doanh nghiệp.

Thứ ba, các doanh nghiệp, hợp tác xã và hiệp hội ngành nghề trong khu vực nông thôn có nhu cầu tuyển dụng lao động tay nghề cao, tiếp cận cơ chế đặt hàng đào tạo và tham gia chuỗi giá trị bao tiêu sản phẩm nông nghiệp - dịch vụ.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và Kinh tế phát triển cần nguồn tài liệu thực chứng phong phú và hệ thống dữ liệu định lượng giai đoạn 2012–2016 để phát triển các đề tài liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nổi bật nhất trong kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Kiên Giang giai đoạn 2012–2016 là gì? Thành tựu lớn nhất là quy mô đào tạo đạt 55.034 học viên, trong đó 46.230 người có việc làm, tương ứng tỷ lệ 84%, vượt xa chỉ tiêu 70% quy định tại Quyết định 1956/QĐ-TTg. Kết quả này góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

Tại sao tỷ lệ người học tự tạo việc làm lại chiếm tới 87,27% tổng số lao động có việc làm? Tỷ lệ tự tạo việc làm đạt 40.346 người xuất phát từ đặc thù sản xuất nông hộ chiếm ưu thế tại Kiên Giang. Phần lớn nông dân tham gia các lớp ngắn hạn để nâng cao năng suất trồng trọt, nuôi thủy sản trên chính mảnh đất của gia đình thay vì đi làm thuê tại doanh nghiệp.

Hạn chế lớn nhất trong quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Kiên Giang được chỉ ra là gì? Hạn chế lớn nhất là công tác khảo sát nhu cầu đào tạo còn mang tính hình thức, thiếu kết nối với quy hoạch phát triển công nghiệp - dịch vụ. Hệ quả là chỉ có 3.578 lao động (7,74%) được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp, gây lãng phí nguồn lực đào tạo.

Luận văn đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng cho tỉnh Kiên Giang? Tác giả nhấn mạnh kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Thái Lan về việc gắn đào tạo kỹ năng với tiến bộ công nghệ, cho phép doanh nghiệp trực tiếp tham gia thiết kế giáo trình và đào tạo liên thông, giúp năng suất lao động tăng trưởng bền vững 10–13% mỗi năm.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao hiệu quả gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp? Giải pháp cốt lõi là thiết lập cơ chế đặt hàng đào tạo ba bên đi kèm chính sách ưu đãi tài chính cho doanh nghiệp tiếp nhận thực tập và tuyển dụng học viên, hướng tới mục tiêu tối thiểu 25% lao động được doanh nghiệp cam kết việc làm ngay khi tốt nghiệp.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Trí đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong nền kinh tế thị trường.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc với các số liệu tin cậy về 55.034 lao động được đào tạo và tỷ lệ có việc làm đạt 84% tại Kiên Giang giai đoạn 2012–2016.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn mang tính cấu trúc khi có tới 87,27% lao động tự tạo việc làm và chỉ 7,74% được doanh nghiệp tuyển dụng.
  • Đúc rút bài học kinh nghiệm thực tiễn từ Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thái Lan và Hàn Quốc phù hợp với đặc thù 4 tiểu vùng kinh tế tỉnh Kiên Giang.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cấp cơ sở vật chất và tăng cường thanh tra giám sát.

Để hiện thực hóa các định hướng này trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương xây dựng lộ trình hành động cụ thể gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2025. Hãy chủ động nghiên cứu và áp dụng những hàm ý chính sách từ luận văn này nhằm nâng cao hiệu lực quản lý công, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập cho hàng vạn hộ gia đình nông thôn.