phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có 3 chƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH NGHỀ HỆ TRUNG CẤP 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Ở nƣớc ngoài Ở Liên Xô (trước đây) - Công tác đào tạo nghề ở Liên xô đã có truyền thống từ lâu đời là đào tạo tại xí nghiệp.
Tháng 7 năm 1920 Lê nin đã ký sắc lệnh” về chế độ học tập kỹ thuật - nghề nghiệp”, sắc lệnh này bắt buộc đối với mọi ngƣời từ 18 đến 40 tuổi. Việc đào tạo rất đa dạng đó là dạy nghề cạnh xí nghiệp và trƣờng dạy nghề. Các trƣờng dạy nghề và trƣờng cạnh xí nghiệp với thời gian học tập khác nhau: 2 năm đào tạo công nhân bậc 3 và 4; 2 năm rƣỡi và 3 năm đào tạo công nhân bậc 5 và 6; 3 năm và 4 năm đào tạo công nhân lành nghề bậc cao. - Giai đoạn1: Đào tạo lý thuyết và thực hành cơ bản tại cơ sở đào tạo của xí nghiệp.
- Giai đoạn 2: Đào tạo thực hành tại vị trí làm việc dƣới sự hƣớng dẫn của thợ cả hoặc hƣớng dẫn viên thực hành. Trên thế giới, hầu hết các nƣớc đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh hệ phổ thông và đại học. Trung Quốc có hệ thống GDCN gồm 3 trình độ dạy nghề sơ trung, dạy nghề cao trung và trung cấp chuyên nghiệp. Dạy nghề sơ trung tƣơng đƣơng với sơ trung phổ thông hay THCS ở nƣớc ta, Dạy nghề cao trung tƣơng đƣơng với cao trung phổ thông hay THPT ở nƣớc ta.
TCCN chia làm 2 trình độ: Cao trung và sau cao trung 2 năm Ở Cộng hoà liên bang Đức Có hệ thống đào tạo nghề và TCCN, về mặt trình độ một bộ phận đƣợc xếp vào bậc trung học tƣơng đƣơng với THPT từ lớp 9 đến lớp 13, một bộ phận cao hơn vào bậc sau trung học. Ở Đài Loan - Học sinh tốt nghiệp Trung cấp cơ sở học tại trƣờng trung cấp nghề ra trƣờng đƣợc công nhận là công nhân lành nghề. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 - Học sinh tốt nghiệp trung cấp nghề và công nhân lành nghề đƣợc học tiếp theo ở bậc cao đẳng, tốt nghiệp đƣợc cấp bằng kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật bậc cao và có quyền học tiếp lên đại học. Ở Hoa Kỳ - Đào tạo công nhân đƣợc tiến hành trong các trƣờng THPT phân ban, các trƣờng dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo sau trung học.
- Tốt nghiệp đƣợc cấp bằng chúng nhận và chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền đƣợc đi học tiếp theo. - Thời gian đào tạo từ 2 - 7 năm tuỳ từng nghề. Ở Việt Nam Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đƣợc đƣợc hình thành trên 50 năm. Điều 32 Luật Giáo dục năm 2005 qui định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp đƣợc thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với ngƣời tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với ngƣời tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dƣới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Qua phân tích đặc trƣng của một số nƣớc về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp đƣợc hình thành do yêu cầu của thị trƣờng lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của ngƣời lao động trong xã hội. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trƣờng lao động những kỹ thuật viên trung cấp và công nhân kỹ thuật trung cấp và công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc đƣợc đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Hình thức đào tạo nghề nghiệp phong phú và đa dạng: Đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính qui và đào tạo không chính qui; đào tạo tại các trƣờng hay các trƣờng hay các trung tâm dạy nghề. Đặc trƣng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo ngƣời lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết.
Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo. Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lƣợng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trƣờng lao động. Đó cũng là cơ sở để thị trƣờng lao động thực hiện đƣợc các qui luật cung cầu, qui luật giá trị và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 qui luật cạnh tranh. Ở nƣớc ta, thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động thực hành nghề tại các trƣờng trung cấp và cao đẳng nghề chƣa nhiều, cho tới thời điểm hiện tại đã có một số công trình có liên quan nhƣ: Tác giả Hoàng Minh Quan: Thí nghiệm thực hành ảo ứng dụng trong dạy nghề điện ô tô tại trƣờng cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc - Nghệ An, Luận văn thạc sĩ QLGD – 2009.
Biện pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao kết quả học thực hành nghề tại trƣờng Trung cấp nghề Tuyên Quang - Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ QLGD – 2009 của Nguyễn Văn Khôi. Trong số các công trình trên đây chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động thực hành hệ trung cấp nghề ở Trƣờng CĐCN Việt Đức. Vì vậy, nét mới của luận văn là khai thác làm rõ những đặc điểm của hoạt động thực hành nghề hệ trung cấp ở một trƣờng cao đẳng công nghiệp khu vực miền núi. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Quản lý và Quản lý dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý. Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn ”19. Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định ”16.
Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật ”. Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”23Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con ngƣời có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những ngƣời khác để thực hiện thành công công việc nhất định. Quản lý là công tác phối hợp có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 hiệu quả hoạt động của những ngƣời cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hƣởng tích cực đến những ngƣời khác để đạt đƣợc những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng.
Sơ đồ logic của khái niệm quản lý Chủ thể quản lý Môi MỤC trƣờng TIÊU Đối tƣợng bị quản lý Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng”. Với khái niệm trên quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: - Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đã đặt ra cho cả đối tƣợng và chủ thể. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Chủ thể phải thực hành việc tác động.
- Quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tƣợng bị quản lý. - Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngƣợc. - Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi. Hoạt động và các quan hệ quản lý chính là đối tƣợng của khoa học quản lý.
Quản lý ra đời chính là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn so với việc làm của từng cá nhân riêng rẽ của một nhóm ngƣời khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung gần gũi với nhau. Nói một cách khác của quản lý là quản lý con ngƣời trong tổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 chức, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của tổ chức. Ngày nay công tác quản lý đƣợc coi là một trong 5 nhân tố phát triển kinh tế xã hội là: Vốn - Nguồn lực lao động - Khoa học kỹ thuật công nghệ - Tài nguyên và quản lý. Trong đó quản lý có vai trò quyết định sự thành bại của công việc.
Về khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách hiểu. Do giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội nên quản lý giáo dục đƣợc xem là quản lý xã hội. Quản lý giáo dục luôn bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị-xã hội, phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia. Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất ”14.