CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới luận án về mặt lý luận 1. Các bài nghiên cứu về nội hàm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế tri thức Nguyễn Phan Thu Hằng (2015) đã phân tích những điểm đặc trưng về nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là: nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực, kết tinh những gì tinh túy nhất, chất lượng nhất của nguồn nhân lực.
Đây là bộ phận lao động có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần yêu nước, tình cảm dân tộc, ý chí tự lực tự cường; có tác phong nghề nghiệp, có tính kỷ luật; có sức khỏe tốt; có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn; biết vận dụng những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào trong quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao (Nguyễn Phan Thu Hằng, 2015). Hay nói cách khác, nguồn nhân lực chất lượng cao tựu trung lại vẫn là một thuật ngữ dùng để thể hiện trạng thái của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Nghiên cứu của Phan Văn Kha (2007) đã chỉ ra rằng sự phát triển của nguồn nhân lực chủ yếu được dựa vào sự tăng lên về vốn nhân lực của từng cá nhân trong nền kinh tế. Sự tăng lên này thể hiện mặt chất lượng của sức lao động.
Xét về mặt xã hội, vốn nhân lực bao gồm: số lượng – tiềm năng lao động xã hội và chất lượng – tính năng lao động xã hội của nguồn nhân lực. Xét tổng thể, nguồn nhân lực chính là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, đồng thời thể hiện được năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế (Phan Văn Kha, 2007). Về mặt số lượng, số lượng nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi giới tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ. Số lượng nguồn nhân lực chính là yếu tổ thể hiện tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm (Lê Thị Thúy, 2012).
Hay nói cách khác, số lượng nguồn nhân lực là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm 8 việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Về mặt chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực đã được Adam Smith đề cập trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” khi ông cho rằng những cải tiến lớn nhất trong năng lực sản xuất của lao động phần lớn là sự khéo léo, sự thông minh của lao động. do đó tăng được năng suất và tạo ra sự giàu có của quốc gia (A. Cụ thể hơn, chất lượng nguồn nhân lực có thể được định nghĩa là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động (Nguyễn Sinh Cúc, 2014).
Hay nói cách khác, chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực (Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh, 2008). Về mặt cơ cấu, cơ cấu nguồn nhân lực của một tổ chức đề cập đến thành phần, tỷ trọng các thành phần và vai trò của các bộ phận nguồn nhân lực trong tổ chức đó (Phạm Vĩnh Thái, 2012). Theo đó, cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý là cơ cấu phù hợp với cơ cấu sản xuất kinh doanh và phản ánh được trình độ tổ chức quản lý, trình độ về khoa học công nghệ của tổ chức.
Trên thực tế, cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi. Do đó, cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế. Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 - 3 - 1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược; tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật. Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng đã có những biểu hiện của sự mất cân đối (Tạ Ngọc Hải, 2021).
Nghiên cứu của Tạ Ngọc Hải (2021) đã chỉ ra rằng một nền kinh tế trí thức tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sáng tạo của nguồn nhân lực chất lượng cao. Nền kinh tế này tập trung vào việc tạo ra và chia sẻ tri thức, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ, đồng thời tạo ra môi trường đổi mới và khuyến khích sự sáng tạo. Điều này cung cấp cho nguồn nhân lực chất lượng cao một cơ hội để tiếp cận và 9 áp dụng kiến thức mới nhất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng. Bên cạnh đó, nền kinh tế trí thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và giữ chân những nguồn nhân lực tài năng.
Việc tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn, với các cơ hội phát triển nghề nghiệp, thu nhập cạnh tranh và một cuộc sống chất lượng, làm cho Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu và chuyên gia tài năng từ khắp nơi trên thế giới. Điều này không chỉ mang lại sự đa dạng và sự phong phú cho nguồn nhân lực, mà còn tạo ra một môi trường học tập và giao lưu chuyên môn sôi động. Các bài nghiên cứu về trụ cột của nền kinh tế tri thức Các bài nghiên cứu trước đây về vấn đề này nhận thấy quá trình chuyển đổi thành công sang nền kinh tế tri thức của một quốc gia thường liên quan đến các yếu tố như: đầu tư dài hạn vào giáo dục, phát triển khả năng đổi mới, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin và có môi trường kinh tế thuận lợi cho các giao dịch thị trường. Các yếu tố này đã được Ngân hàng Thế giới (WB) gọi là các trụ cột của nền kinh tế tri thức và chúng cùng nhau tạo thành khung kinh tế tri thức (Knowledge Economy Framework) (Chen & Dahlman, 2005).
Nói cách khác, khung kinh tế tri thức bao gồm tổng thể các trụ cột của nền kinh tế tri thức, nó thể hiện quan điểm của WB rằng các các khoản đầu tư vào các trụ cột của nền kinh tế tri thức là cần thiết để kiến tạo, áp dụng bền vững, thích ứng và sử dụng tri thức trong mỗi quốc gia. Thông qua đó, hàng hóa và dịch vụ của quốc gia sẽ có giá trị gia tăng cao hơn, tạo điều kiện để quốc gia tăng mức độ phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa đầy tính cạnh tranh hiện nay (Gorji & Alipourian, 2011). Theo đó, bốn trụ cột của khung kinh tế tri thức bao gồm: Một là, cơ chế kinh tế và thể chế (economic incentive and institutional regime). Bao gồm các chính sách về kinh tế và thể chế cho phép việc huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, khuyến khích tinh thần doanh nghiệp, thúc đẩy sự sáng tạo phổ biến và sử dụng hiệu quả tri thức (Gorji & Alipourian, 2011).
Do đó, một cơ chế kinh tế và thể chế được cho là “có lợi cho tri thức” (knowledge conducive) cần đáp ứng được nhiều yếu tố. Trước hết, đó là một cơ chế chủ trương thực hiện chính sách mở cửa cho thương mại quốc tế và không để các chính sách bảo hộ thúc đẩy cạnh tranh, để từ đó sẽ khuyến khích tinh thần kinh doanh (Sachs và Warner, 1995; và Bosworth & Collins, 2003). Đồng thời, các khoản chi tiêu của chính phủ và thâm hụt ngân sách cần bền vững, lạm phát cần ổn định và ở mức thấp (Barro, 1991). Kế đến, đó là một cơ chế 10 và thể chế mà giá cả phần lớn không bị kiểm soát bởi nhà nước, theo đó tỷ giá hối đoái sẽ phản ánh đúng giá trị của tiền tệ.
Ngoài ra, hệ thống tài chính cần đảm bảo khả năng phân bổ nguồn lực hợp lý trong việc đầu tư và tái triển khai tài sản từ những doanh nghiệp thất bại sang những doanh nghiệp có triển vọng hơn (Levine, Loayza, & Beck, 2000). Không chỉ thế, trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề cần được bảo vệ và thực thi mạnh mẽ. Bởi lẽ, nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ và thực thi đầy đủ, các nhà nghiên cứu sẽ bị giảm thiểu động lực để tạo ra tri thức mới và thậm chí trong trường hợp tri thức mới được tạo ra, việc thiếu quan tâm đến chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ trở thành lực cản cho việc phổ biến những tri thức này (Knack & Keefer 1995; Kaufmann, 2002, 2003). Hai là, lực lượng lao động có trình độ và tay nghề cao (educated and skilled labor force).
Một lực lượng lao động được giáo dục tốt và có kỹ năng là điều kiện cần trong việc kiến tạo, tiếp thu, sử dụng và phổ biến tri thức một một cách có hiệu quả nhằm tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Theo đó, giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực học hỏi và sử dụng tri thức của lực lượng lao động (Chen & Dahlman, 2005). Mặt khác, nền kinh tế tri thức toàn cầu đang đặt ra những nhu cầu mới về lao động khi đòi hỏi con người cần nhiều kỹ năng và kiến thức hơn để có thể hoạt động suốt đời. Những đòi hỏi này hình thành nên nhu cầu về một mô hình giáo dục và đào tạo đổi mới hơn hướng đến việc học tập suốt đời (Gorji & Alipourian, 2011).