Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: Tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nhiên cứu: trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp, tổng hợp các nghiên cứu trước đây và đề xuất mô hình nghiên cứu với các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu, đánh giá sơ bộ thang đo, mẫu và đám đông nghiên cứu, giới thiệu thang đo chính thức trong nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Phân tích dữ liệu nghiên cứu thông qua công cụ phần mềm SPSS, AMOS.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt những ý chính sau khi thực hiên đề tài nghiên cứu và nêu lên các đề xuất ứng dụng trong mô hình nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khởi nghiệp Khởi nghiệp được giải thích làm thế nào và tại sao một số cá nhân (hoặc nhóm) xác định cơ hội, đánh giá tính khả thi của những cơ hội đó, và sau đó quyết định để khai thác chúng, trong khi những người khác thì không (Scott và Venkatraman, 2000). Khởi nghiệp được xem như là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế, do đó, mỗi quốc gia đều coi việc thúc đẩy tầng lớp thanh nhiên khởi nghiệp là việc vô cùng quan trọng trong việc hoạch định chính sách (Sobel và King, 2008).
Khởi nghiệp là quá trình mà một cá nhân (hoặc nhóm) xác định một cơ hội kinh doanh; mua lại và triển khai các nguồn lực cần thiết để khai thác nó. Việc khai thác các cơ hội kinh doanh có thể bao gồm các hoạt động như phát triển một kế hoạch kinh doanh, thuê nguồn nhân lực, huy động được nguồn tài chính và nguyên vật liệu, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, và chịu trách nhiệm cho sự thành công hay thất bại của công việc kinh doanh (Hisrich và Robert, 2011). Khởi nghiệp là quá trình thiết kế, mở ra và vận hành một doanh nghiệp mới, mà thường bắt đầu như một doanh nghiệp nhỏ, cung cấp một sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ để bán hoặc cho thuê (Yetisen và cộng sự, 2015). Như vậy, có thể hiểu đơn giản khởi nghiệp tức là một tổ chức, cá nhân đã suy nghĩ một công việc kinh doanh riêng, để hiện thực hóa suy nghĩ này, thường thì sẽ thành lập một doanh nghiệp (hay thuê nhân viên về làm việc) mà tại đó một tổ chức, cá nhân có thể là người sáng lập cùng một vài người khác sáng lập ra tổ chức đó để cung cấp những sản phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí kinh doanh những sản phẩm, dịch vụ đã có trên thị trường nhưng theo hướng sáng tạo hơn, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cao, với tiềm năng phát triển lớn.
Người khởi nghiệp Người khởi nghiệp là người tổ chức và quản lý một doanh nghiệp, với sự sáng tạo và chấp nhận rủi ro. Thay vì làm việc như một nhân viên, một người khởi nghiệp điều hành một doanh nghiệp nhỏ và gánh vác tất cả các rủi ro và phần thưởng của việc kinh doanh. Người khởi nghiệp thường được xem như là một nhà lãnh đạo kinh doanh và là người sáng tạo những ý tưởng mới và quy trình kinh doanh. Những người khởi nghiệp có xu hướng nhận thức tốt cơ hội kinh doanh mới và họ thường thể hiện những ý kiến tích cực trong nhận thức của họ và một thái độ chấp nhận rủi ro khiến họ có nhiều khả năng khai thác các cơ hội hơn (Black và cộng sự, 2010; Zhang và Cueto, 2015).
Một người khởi nghiệp là người kiểm soát hoạt động của một cam kết thương mại, chỉ đạo các yếu tố như con người, sản xuất, tài chính, tài nguyên cần thiết để khai thác cơ hội kinh doanh. Họ hành động như một nhà quản lý; giám sát việc mở mới và phát triển một doanh nghiệp (Hisrich và Robert, 2011). Ý định khởi nghiệp Ý định là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi (Ajzen và Fishbein, 1975): là yếu tố then chốt để hiểu được quá trình sáng tạo ra doanh nghiệp mới (Bird, 1988): là nhân tố, động cơ của chủ thể dẫn đến hành vi và được định nghĩa xem như việc này là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Ý định khởi nghiệp kinh doanh là nhân tố quyết định đối với việc thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991).
Ý định khởi nghiệp kinh doanh là nhân tố quyết định đối với việc thực hiện hành vi kinh doanh (Kolvereid, 1996); là một sự dự báo, sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh có chủ ý của một người nào đó với mong muốn tạo ra giá trị, sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội (Luthje và Franke, 2003). Các nghiên cứu gần đây, ý định khởi nghiệp là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta và Bhave, 2007); là sự liên quan về ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris và cộng sự, 2007); ý định này bắt nguồn từ việc các cá 9 nhân nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz và Wagner, 2010). Các mô hình lý thuyết 2. Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Lý thuyết TRA nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người.
Thuyết này được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ. Các cá nhân sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó. TRA dựa trên giả định rằng con người đưa ra những quyết định hợp lí dựa trên những thông tin mà họ biết. Niềm tin Thái độ Sự đánh giá Hành vi Ý định hành vi thực sự Niềm tin quy chuẩn Chuẩn chủ quan Động cơ Nguồn: Mô hình TRA của Ajzen & Fishbein (1975) Hình 2.
Mô hình TRA Lý thuyết này chỉ ra rằng ý định hành vi là nhân tố trung tâm, là dự đoán tốt nhất của hành vi cuối cùng; nó được giả định để nắm bắt các yếu tố tạo động lực ảnh hưởng đến hành vi; là những dấu hiệu cho thấy cách mọi người chăm chỉ và cố 10 gắng với nỗ lực rất cao để thực hiện hành vi. Ý định đồng thời được xác định bởi thái độ và các quy chuẩn chủ quan. - Thái độ: cảm nhận tích cực hay tiêu cực về việc thực hiện một hành vi và có thể được quyết định bởi sự dự báo về kết quả của những hành động của họ. - Chuẩn chủ quan: nhận thức của một người rằng hầu hết những người xung quanh cho rằng họ nên hoặc không nên thực hiện hành động đó.
Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour –TPB) Lý thuyết về hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) đưa ra ba khái niệm độc lập ảnh hưởng đến ý định. - Đầu tiên, thái độ hướng đến hành vi diễn đạt đến cảm nhận tích cực hay tiêu cực khi thực hiện hành vi. - Thứ hai, chuẩn chủ quan đề cập những nhận thức về áp lực xã hội ảnh hưởng đến người có ý định để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. - Thứ ba, nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức là dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và nó được giả định để phản ánh kinh nghiệm quá khứ cũng như dự đoán những trở ngại trong tương lai; biến này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi …Mô hình TPB được xem ” như tối ưu hơn đối với TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu.
Thái độ hướng đến hành vi Ý định Hành vi thực Chuẩn chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2. Mô hình TPB Nguồn: Mô hình TPB của Ajzen (1991) 11 2. Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (The entrepreneurial event theory- EET) Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) là một mô hình cổ điển nhưng vẫn được trích dẫn và áp dụng khá nhiều trong các nghiên cứu về khởi nghiệp bởi tính hữu dụng. Nghiên cứu này chỉ ra sự kiện khởi nghiệp bị ảnh hưởng bởi cảm nhận sự mong muốn, cảm nhận tính khả thi và yếu tố hoàn cảnh, trong đó: - Yếu tố hoàn cảnh: đa số cá nhân thường có xu hướng không mong muốn “ thay đổi trạng thái hiện tại cho đến khi phải có sự lựa chọn, Shapero cho rằng các sự kiện khởi nghiệp của các cá nhân khởi nguồn từ hoàn cảnh, chia là 03 nhóm như sau: ” + Thay đổi tiêu cực (yếu tố đẩy) như bị đuổi việc, bất mãn công việc hiện tại, chuyển nơi sinh sống, ly hôn,…; + Thay đổi tích cực (yếu tố kéo) như tìm được đối tác chiến lược, có sự hỗ trợ tài chính, kế thừa sự nghiệp của gia đình,…; + Các yếu tố trung gian như tốt nghiệp, ra trường,.
- Yếu tố mong muốn: thể hiện suy nghĩ của cá nhân về hấp dẫn trong công “” việc kinh doanh, đồng thời hình thành hệ giá trị cá nhân. Hệ thống giá trị cá nhân được hình thành từ những giá trị chung của văn hóa, xã hội, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Theo Shapero, để cá nhân mong muốn khởi nghiệp, xã hội phải cho doanh nhân vị trí và hình ảnh tương xứng với vị thế họ đáng nhận được. Đồng thời các tố chất cá nhân như tính sáng tạo, tự chủ, dám mạo hiểm, có trách nhiệm và chấp nhận rủi ro cần được đề cao.
Yếu tố này có thể nhận định khá tương đồng với yếu tố “Thái độ” (tích cực) và “Chuẩn chủ quan” của nghiên cứu Ajzen (1991). - Yếu tố khả thi: Các nguồn lực, sự hỗ trợ từ bên ngoài (tài chính, kinh “ nghiệp, chính sách của chính phủ và địa phương, kinh nghiệm từ những người đi trước, sự sẵn sàng chuyển giao công nghệ, tư tưởng về lập nghiệp của gia đình, kỹ năng cá nhân…) góp phần tăng cảm nhận về tính khả thi của cá nhân khi có ý định khởi nghiệp. Yếu tố này cũng có thể xem là tương tự với yếu tố “nhận thức về kiểm soát hành vi” của Ajzen (1991).