CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 1. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về NNL. Ở phạm vi tổ chức, NNL bao gồm tất cả cá nhân tham gia vào các hoạt động của tổ chức với những vai trò khác nhau và được coi là nguồn tài nguyên quý giá nhất của tổ chức.
Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2015), NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực. Tức là, NNL là toàn bộ số lao động hiện đang trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Họ chịu sự phân công công việc, quản lý giám sát bởi doanh nghiệp và được hưởng các chế độ đãi ngộ từ tổ chức nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của cá nhân, cũng như chăm lo cho gia đình. Những quan điểm của các tác giả ở trên cũng xem xét NNL là nguồn lực bên trong mỗi con người bao gồm thể lực, trí lực và sức mạnh tiềm ẩn bên trong của NNL bao gồm trí lực, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và phong cách làm việc của mỗi người và nếu được tạo động lực thì sức mạnh tiềm ẩn bên trong mỗi người sẽ được phát huy tối đa thông qua năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ họ tạo ra trong tổ chức.
Khái niệm nhân lực và NNL KH&CN là một phạm trù, từ lâu, đã được nhiều tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm. Mỗi một quốc gia đều có một quan điểm, có khi là khác nhau, về nhân lực và NNL có trình độ chuyên môn ở một mức độ nhất định trở lên. - Để phục vụ cho thống kê KH&CN quốc tế, từ 1980, UNESCO đã đề xuất sử dụng định nghĩa “Nhân lực khoa học và kỹ thuật”, theo đó nhân lực khoa học và kỹ thuật của một đơn vị thống kê là tổng số những người trực tiếp tham gia hoạt động 9 KH&CN của đơn vị và được trả tiền công cho sự tham gia đó. Những người này bao gồm các “nhà khoa học và kỹ sư”, “kỹ thuật viên” và “nhân viên hỗ trợ”.
(Hồ Ngọc Luật, 2017) - Năm 1995, OECD đề xuất phương pháp luận đánh giá nhân lực KH&CN tại Sổ tay Canberra, theo đó, “NNL KH&CN” (Human resources in science and technology, viết tắt là HRST) của một quốc gia/vùng lãnh thổ bao gồm toàn bộ những người hoàn thành bậc giáo dục đại học (tertiary level of education) hoặc những người tuy chưa được đào tạo chính quy như trên, nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng trở lên. (Hồ Ngọc Luật, 2017) Ở Việt Nam hiện nay, tuy chưa có các định nghĩa chính thức về nhân lực, NNL KH&CN, tuy nhiên tại Điều 3 Luật KH&CN số 29/2013/QH13 đưa ra định nghĩa: “Cá nhân hoạt động KH&CN là người thực hiện hoạt động KH&CN”. Trong đó, hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN. (Quốc hội, 2013) Trong Sách KH&CN Việt Nam 2015 của Bộ KH&CN viết rằng: khi so sánh và phân tích nguồn nhân lực KH&CN, các quốc gia và các tổ chức quốc tế, chủ yếu sử dụng số liệu về nhân lực nghiên cứu và phát triển, trong đó đặc biệt tập trung phân tích và so sánh dữ liệu về cán bộ nghiên cứu.
(Bộ KH&CN, 2015) Trong luận văn thạc sĩ của một số tác giả đã công bố cũng đã đề cập đến khái niệm NNL KH&CN. Ví dụ tác giả Nguyễn Thị Liên trong luận văn thạc sĩ của mình cho rằng: “NNL KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN mà chúng ta có thể khai thác và sử dụng trong hoạt động KH&CN”. (Nguyễn Thị Liên, 2019, 8) Như vậy, qua tham khảo các khái niệm có liên quan của các tổ chức, cá nhân trong các nghiên cứu của họ, luận văn xác định rằng: Nguồn nhân lực KH&CN là 10 toàn bộ các cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN. Các cá nhân này công tác tại: các tổ chức nghiên cứu và phát triển chuyên nghiệp; các trường đại học, học viện, trường cao đẳng; các cơ quan hành chính, sự nghiệp; các doanh nghiệp.
Vai trò của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Những đóng góp của NNL KH&CN trong quá trình phát triển KTXH nói chung và trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng được thể hiện rõ nét ở những nội dung sau (Phạm Thị Nga và cộng sự, 2022, 114): - NNL KH&CN là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối chính sách trong phát triển kinh tế-xã hội của địa phương - NNL KH&CN đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới, vào sản xuất; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ. - NNL KH&CN là lực lượng xung kích trong việc lựa chọn, tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ công nghệ mới của thế giới vào phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam - NNL KH&CN đóng góp lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học, kiến thức và công nghệ sản xuất tiên tiến, thực hiện việc dẫn dắt cho những bộ phận có năng lực và trình độ thấp hơn đi lên, qua đó góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về KH&CN và kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng lực hoạt động sản xuất của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Phân loại nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Sách KH&CN Việt Nam 2015 của Bộ KH&CN cho biết, NNL KH&CN là một trong những chỉ tiêu quan trọng so sánh nguồn lực KH&CN của các quốc gia 11 với nhau, nhất là chỉ tiêu về NNL nghiên cứu và phát triển. Trong đó, NNL nghiên cứu và phát triển là gồm những người tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Nhân lực nghiên cứu và phát triển bao gồm các cán bộ nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và nhân lực khác. (Bộ KH&CN, 2015, 83) Cuốn sách này cũng cho biết, trên thế giới, khi so sánh và phân tích NNL KH&CN, các quốc gia và các tổ chức quốc tế, chủ yếu sử dụng số liệu về nhân lực nghiên cứu và phát triển, trong đó đặc biệt tập trung phân tích và so sánh dữ liệu về cán bộ nghiên cứu. Xu hướng này cũng được áp dụng tại các cuộc điều tra của Bộ KH&CN Việt Nam.(Bộ KH&CN, 2015, 84) Do đó trong luận văn này cũng thống nhất sử dụng quan điểm nêu trên khi đề cập đến NNL KH&CN. Theo đó, NNL KH&CN được nghiên cứu sẽ tập trung chủ yếu vào NNL nghiên cứu và phát triển, bao gồm các loại sau: - NNL KH&CN tại các tổ chức nghiên cứu và phát triển chuyên nghiệp (các viện, các trung tâm nghiên cứu và phát triển), bao gồm tất cả nhân viên của tổ chức (trừ những người chỉ hoạt động trong các bộ phận sản xuất, kinh doanh nếu có và không tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển của tổ chức).
Với chức năng nghiên cứu sáng tạo, họ là những người có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên). - NNL KH&CN tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, bao gồm cán bộ giảng dạy, cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên làm trong các đơn vị nghiên cứu và phát triển của trường nhưng không bao gồm những người chỉ làm công tác hỗ trợ giảng dạy (như giáo vụ. Ngoài chuyên môn dạy học (nhà giáo chuyên nghiệp, các giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học), họ còn tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu khoa học. - NNL KH&CN tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp có hoạt động nghiên cứu và phát triển (có triển khai đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển), bao gồm những người trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án.
- NNL KH&CN tại các doanh nghiệp, bao gồm những người hoạt động trong 12 các đơn vị, bộ phận làm nghiên cứu và phát triển, phát triển công nghệ, sản phẩm mới (không phải tất cả các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp). Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở địa phương cấp tỉnh 1. Khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở địa phương cấp tỉnh - Các quan điểm về chính sách và chính sách công: Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội ngày nay. Theo quan niệm phổ biến được đề cập trong cuốn giáo trình CS KTXH, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân:“ Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại”.(Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2007, 20) Chính sách công nói chung là những CS do các cơ quan công quyền ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng.
Tác giả Lê Chi Mai trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản về CS và quy trình CS” cho rằng: “CS công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống KTXH theo mục tiêu xác định”. (Lê Chi Mai, 2001, 16) - Các quan điểm về phát triển NNL: Theo tác giả Nguyễn Minh Đường trong “Nghiên cứu phát triển NNL với phương pháp tiếp cận hệ thống trong điều kiện mới”: Phát triển NNL được hiểu là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn.