phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương: - Chương |. Cơ sở lý luận của Luận văn - Chương 2. Thực trạng việc quản lý tải sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Chương 3. Các giải pháp thông qua chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguôn kinh phí nhà nước 11 CHUONG 1.
CO SO LY LUAN CUA LUAN VAN 1. Dai cương về chính sách 1. Khái niệm chính sách? Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú ý là James E. Anderson” đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thé theo đuổi dé giải quyết những van dé mà họ quan tam”.
"Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhăm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra"# hoặc "Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội" Khái niệm chính sách được xem xét từ các cách tiếp cận: tiếp cận chính trị học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận lý thuyết trò chơi, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tong hợp. Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thê quan ly đưa ra, được thé chế hoá thành những quy định có giá trị pháp ? Trong mục này, tác giả Luận văn sử dụng lý thuyết Khoa học chính sách của Vũ Cao Đàm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 3 James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec. 1983) % Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Da Nẵng.157 > Nguyễn Như Ý: Đại Tir điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá — Thông tin.
12 lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thé quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thé quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phat triển hệ thống, nhăm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thê quản lý đưa ra.
- Và như vậy, chính sách luôn tạo ra một bat bình đăng xã hội, rất có thê, đồng thời khắc phục một bat bình đăng xã hội đang ton tại, rất có thé khoét sâu thêm những bất bình đăng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội. - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyên lực hoặc chủ thé quản lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, trong các bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyên lực, hoặc chủ thé quan lý đưa ra, trong đó tạo sự wu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. ” Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thé là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nha trường, v. 13 Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thé là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản đưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, v.) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách.
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chăng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia, V. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là chuẩn bị giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thé quan ly luôn thang trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rang luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thay được chia sẻ lợi ích thoả đáng, không dồn đối tác vào đường cùng dé đón lay những mỗi họa tiềm ân trong các vòng chơi tiếp theo.
14 - Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình chính sách lại làm xuất hiện những yếu tô bat đồng bộ mới. Và như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống , từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ồn định tuyệt đối. Ôn định, có nghĩa là không còn sự phát triển.
- Kết quả cuối cùng cai ma chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp ý đồ của chủ thé chính sách. Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành Chủ thé nao cũng cần va có thé dưa ra những chính sách phục vụ cho mục tiêu t6n tại và phát triển của mình. Chủ thể ở đây có thể được hiểu là một nhà nước, một tỉnh/thành phó, một doanh nghiệp, một nhà trường, một tô chức xã hội, v. - Chính sách của một quốc gia: Tw khi hình thành quốc gia, nhu cầu phát triển của quốc gia luôn được thể hiện thông qua những chính sách: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, v.
- Chính sách của một doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp là một ct quyết định chính sách phục vụ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp: chính sách đầu tư, chính sách phát triển sản phẩm, chính sách công nghệ, chính sách R&D, chính sách thị trường, chính sách khách hàng, chính sách hậu mãi, chính sách cạnh tranh, v. Chính sách của doanh nghiệp có thé day nhanh nhịp điệu phát triển của doanh nghiệp, song cũng có thé dẫn doanh nghiệp đến thua lỗ, thậm chí phá sản. - Chỉnh sách của một chính đảng: Bat kê trong thê chế chính trị một đảng hay thê chế chính trị đa đảng, mỗi đảng chính trị đều cần đề ra chính sách của mình. Chính sách có tầm quan trọng, thậm chí mang ý nghĩa quyết 15 định tới sự thành bại của một chính đảng, thậm chí của quốc gia, khi đảng trở thành đảng cam quyền.
Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách Dù thuộc chủ thể nào, mỗi chính sách đều nhằm vào một hoặc một số mục tiêu. Chọn mục tiêu nao 1a tuỳ yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của hệ thống xã hội. - Chính sách đối ngoại của quốc gia Không một quốc gia nào trong thế giới ngày nay có thể tồn tại một cách cô lập với thế giới. Chính đó là lý do đôi hỏi các quốc gia phải có một chính sách đối xử với các quốc gia khác nhau trong khuôn khổ một chính sách đối ngoại nhất định, trong đó xác định những đồng minh, những liên minh, những đối tác và những đối thủ phải canh chừng.
Tat nhiên chính sách phải thường xuyên điều chỉnh, bởi vì không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng như không có đồng minh trong mọi quan hệ. - Chính sách xoá đói giảm nghèo Chính sách xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao mức sống tối thiểu của dân chúng vượt trên ngưỡng đói nghèo của thế giới. Chính sách này được thực hiện có thể bang cach day nghé va tạo việc làm cho người dân, hỗ trợ người dân tìm kiếm việc làm, bao gồm cả chính sách xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Tuy nhiên chính sách xoá đói giảm nghèo cũng có thể có biện pháp khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư vào khu vực được xem là đói nghèo của đất nước, tạo việc làm cho dân nghèo, nâng cao đời sống của họ.
Trong chính sách này, tuy nhắm vào mục tiêu “xoá đói, giảm nghèo”, nhưng đối tượng tác động không chỉ có dân nghèo, mà có cả dân giầu, gồm các nhà kinh doanh. - Chính sách công nghiệp hoá 16 Chính sách công nghiệp hoá nhằm thúc đây quá trình xây dựng nền sản xuất công nghiệp của đất nước, trong đó xác định những công nghiệp ưu tiên đi tiên phong, những công nghiệp nào cần thải loại, biện pháp để các ngành công nghiệp tạo ra được những sản phâm đủ sức chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, nói chính sách công nghiệp là nói đến một chính sách công cụ của sản phẩm.