Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE PHAT TRIEN NGUON LUC NHAN LUC O KHU CONG NGHIEP 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực 1.1 Một số khái niệm chủ yếu: Khái niệm về phát triển. Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng dé chi quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Chang hạn, quá trình biến đồi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quá trình thay thé lẫn nhau của các hình thức thức t6 chức xã hội loài người: từ hình thức tô chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân téc.; quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Hiện nay, khái niệm về phát triển vẫn còn tiếp tục là van đề tranh luận giữa các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách trên thế giới.
GS Bùi Đình Thanh khái quát lại băng việc đưa ra một khái niệm về phát triển: Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lich sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. [42,tr 1] Ngân hàng thé giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thé lực, trí lực, kỹ năng nghè nghiệp. của mỗi cá nhân” [18, tr 2].
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tô chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Theo từ điển thuật ngữ của Pháp, nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm. Như vậy theo quan điểm này thì những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cau tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học.
thì không được xếp vào nguồn nhân lực xã hội. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có kha năng lao động”. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
“Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hep hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có kha năng lao động”. Khái niệm nay chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị ta có thé hiểu: “Nguồn nhân lực là tổng hoà thé lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thong và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước” [12, tr 25] Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Như vậy, theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thé, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực tài chính, vốn, tài nguyên, thiết bị, v.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do đó, nó có thê lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuôi lao động và có khả năng lao động, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thê tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thê lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nói cách khác, nguồn nhân lực của một tô chức, một doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở các cá nhân với các vai trò, vị trí được phân công khác nhau, nhưng do yéucau hoạt động của tổ chức, của doanh nghiệp, đã được liên kết lại với nhau dé phan đấu cho một mục tiêu nhất định, nhằm đạt những thành qua do tổ chức, doanh nghiệp đó đề ra. Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo hai góc độ là số lượng và chất lượng.
Về số lượng: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với Khu công nghiệp thì NNL không bao gồm những người trong độ tuôi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuôi lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp. Về chất lượng: NNL được biểu hiện thông qua thé lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Chất lượng nguồn nhân lực Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về chất lượng nguồn nhân lực.
Có quan điểm cho rằng, chất lượng nhân lực là giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, 10 làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phâm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cau to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội [13, tr 24] Theo PGS. Mai Quốc Chánh, TS. Trần Xuân Cầu, chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: “ Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thé hiện mối quan hệ giữa các yêu tô câu thành bên trong của nguồn nhân lực” [19, tr 18] Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm về chất lượng NNL như sau : “Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiên thông qua ba mặt: thê lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chat lượng nguồn nhân lực”.
Trong đó, thé lực là nền tảng, là phương tiện dé truyền tai tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, ý thức tác phong làm việc là yếu tố chỉ phối hoạt động chuyên hóa của thể lực trí tuệ thành thực tiễn”. Phát triển nguồn nhân lực. Từ khái niệm phát triển và khái niệm nguồn nhân lực, Phát triển Nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cau phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực, nên có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực.
Theo quan niệm của Liên Hiệp quốc, PTNNL bao gồm giáo dục, dao tạo va sử dụng tiềm năng con người nham thúc đây phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Có quan điểm cho rằng: PTNNL là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã 11 hội. Tổ chức Văn Hóa, Khoa Học và Giáo Dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ hẹp là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ phát triển của đất nước. Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất, chỉ nên giới hạn phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỷ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm.
Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO): Sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn bao gồm cả tăng năng lực san xuat.T6 chức Lao Động Quốc Tế (ILO) cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vẫn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người dé phát triển tiễn tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Đứng trên quan điểm “Con người là nguồn vốn — vốn nhân lực”, tác giả Yoshihara Kunio (Nhật Bản) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”. Với các cách diễn đạt khác nhau, nhưng PTNNL có một điểm chung nhất của tất cả các định nghĩa là đều coi PTNNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia.