Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 1. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Khái niệm nguồn lực công nghệ thông tin và phát triển nguồn lực công nghệ thông tin Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về CNTT, tuy nhiên dưới dây là cách hiểu phổ biến nhất: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [1]. Như chúng ta đã biết, nguồn lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hành động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức nào đó, con người có đủ điều kiện để tham gia vào quá trình lao động. Còn nguồn nhân lực là khái niệm dùng chỉ con người trong độ tuổi lao động và có khả năng tham gia vào quá trình lao động, cụ thể theo Điều 3 của Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [21]. 7 Ở Việt Nam, việc đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực về KH&CN. Khi thống kê nhân lực về KH&CN chúng ta có đưa ra khai quát về địa nghĩa này như sau: “Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên vào hoạt động KH&CN” [5].
Với Luận văn này, bản thân tác giả sẽ sử dụng định nghĩa nêu trên cho nguồn nhân lực KH&CN để làm cơ sở cho việc định nghĩa riêng về nguồn nhân lực CNTT. Với việc lấy định nghĩa về nguồn nhân lực KH&CN đã nêu trên, nguồn nhân lực CNTT được định nghĩa cụ thể như sau: Nguồn nhân lực CNTT là nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực CNTT, gồm toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn về CNTT và những người có trình độ kỹ năng CNTT thực tế tương đương mà không có bằng cấp về CNTT và tham gia thường xuyên vào hoạt động CNTT. Theo Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT, ngày 26/10/2007 của Bộ TT&TT về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020, thì nguồn nhân lực CNTT bao gồm: - Nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; - Nhân lực cho ứng dụng CNTT; - Nhân lực cho đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông và người dân sử dụng các ứng dụng CNTT. Tại Quyết định số 896/QĐ-BTTTT ngày 28/5/2012 của Bộ TT&TT phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành TT&TT giai đoạn 2011-2020, phương hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT bao gồm: 8 - Nhân lực công nghiệp phần cứng; - Nhân lực công nghiệp phần mềm; - Nhân lực công nghiệp nội dung số; - Nhân lực ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước; - Nhân lực ứng dụng CNTT trong cộng đồng.
Việc phát triển nguồn nhân lực CNTT được xem xét trên hai mặt đó là: chất lượng và số lượng. Về chất lượng phát triển nguồn nhân lực CNTT phải được tiến hành trên các mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, trình độ kỹ năng CNTT và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực CNTT phát triển; về số lượng là gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản. Như chúng ta đã biết, trong bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào các các yếu tố của quá trình sản xuất.
Trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng nhất. Việc phát triển nguồn nhân lực CNTT được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau cụ thể như: giáo dục tại nhà trường, đào tạo trình độ, kỹ năng CNTT, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ CNTT, đào tạo sử dụng được ngoại ngữ. Nội dung phát triển nguồn nhân lực CNTT dưới góc độ của Quốc gia đó là quá trình tạo dựng một lực lượng nhân lực năng động, thể lực và sức lực tốt, có bằng cấp chuyên môn về CNTT và có trình độ kỹ năng CNTT thực tế tương đương mà không có bằng cấp về CNTT tham gia thường xuyên vào hoạt động CNTT, lao động có năng suất cao. Phân tích ở góc độ cá nhân thì phát triển nguồn nhân lực CNTT là việc nâng cao trình độ, kỹ năng CNTT, 9 năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động.
Do vậy, phát triển nhân lực CNTT là tổng thể các hoạt động nhằm xây dựng lực lượng lao động CNTT đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN của đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng được thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trước hết cần xác định các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bao gồm các Sở, ngành trực thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trung ương; Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trung ương. Nguồn lực CNTT trong các cơ quan chuyên môn thược UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn về CNTT và những người có trình độ kỹ năng CNTT thực tế tương đương mà không có bằng cấp về CNTT và tham gia thường xuyên vào hoạt động CNTT trong các cơ quan chuyên môn thược UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cụ thể, đó là người được cơ quan, đơn vị giao phụ trách hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan, đơn vị hoặc trực tiếp tham gia triển khai ứng dụng 10 CNTT, vận hành các hệ thống thông tin trong các cơ quan chuyên môn thược UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Đặc điểm của nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Đặc điểm của ngành CNTT - CNTT là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển cao Trên thế giới, năm 1944 chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời do người Mỹ đã phát hiện ra. Ở Việt Nam CNTT bắt đầu xuất hiện từ những năm đầu thập niên 1970, tuy nhiên phải đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển với tốc độ rất cao. Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực CNTT diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây.
Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 đến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới. Trong ngành CNTT biết đến Định luật Moore nổi tiếng với phát biểu tổng quát về khả năng chế tạo ra CPU (Central Processing Unit- Bộ vi xử lý): "Số lượng transistor trên mỗi đơn vị inch vuông sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi năm" (CPU được xem như “bộ não” của máy vi tính, như vậy cũng có thể hiểu nôm na rằng máy vi tính chế tạo năm sau sẽ có tốc độ nhanh gấp đôi so với năm trước). Chiếc máy tính điện tử đầu tiên có tên là ENIAC (Electronic Nummerical Intgrator and Calculator) ra đời tại Mỹ vào năm 1946.000 bóng đèn điện tử, chiếm diện tích sàn: 167 m2, cân nặng 30 tấn, tiêu thụ điện 160 KW/h. Trong 1 giây, ENIAC chỉ có thể thực hiện 5.000 phép tính cộng, 357 phép tính nhân hoặc 38 phép tính chia.
Đến năm 2010, máy vi tính sử dụng chip corei7 của Intel, có khoảng 200 triệu transistor, công nghệ 45-nanometer, có khối lượng đủ để xách tay, điện 11 năng tiêu thụ chỉ bằng 1 bóng đèn điện thắp sáng nhưng có thể thực hiện được 2 nghìn tỉ phép tính trong một giây. - Ngành CNTT có vòng đời sản phẩm ngắn Không giống như những sản phẩm của dự án xây dựng cơ bản có thời gian sử dụng đến vài chục năm, sản phẩm của các dự án CNTT thường có vòng đời ngắn hơn khi và phải chịu yếu tố lạc hậu về công nghệ, yêu cầu người dùng thay đổi. Như vậy một dự án CNTT có thể quay vòng nhiều lần để nâng cấp theo kịp sự phát triển. Do sự phát triển với tốc độ cao, các sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn.
Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999) vòng đời của sản phẩm CNTT thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu. - Ngành CNTT có chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao Ngành CNTT chịu tác động do các yếu tố phát minh và cải tiến thường xuyên. Đồng thời chi phí cho việc nghiên cứu, phát minh và phát triển của ngành CNTT lại cao. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Thượng Hải, chi phí nghiên cứu và phát triển có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm.
- Ngành CNTT có tính tích hợp cao Ngành CNTT ngày nay đã thâm nhập, tích hợp vào trong các ngành các như: Sản xuất ô tô, cơ khí, năng lượng, luyện kim, giao thông, dệt may… làm cho các ngành này phát triển nhanh chóng. Nhờ CNTT mà các ngành khác được tích hợp, chia sẽ dữ liệu, tài nguyên, thông tin với nhau. Điều này làm cho các quốc gia, đất nước trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau. Đặc điểm của nguồn nhân lực CNTT 12 Có thể nói CNTT là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển cao.