Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm thanh niên, thanh niên nông thôn Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo các cách khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và góc độ nhìn nhận, hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Tùy theo môi trường hoạt động, nơi cư trú, đặc điểm nghề nghiệp người ta chia thanh niên thành các nhóm khác nhau: TNNT, thanh niên đô thị; thanh niên công nhân, thanh niên cán bộ công chức, viên chức, thanh niên lực lượng vũ trang, thanh niên trường học. Trong đó TNNT được Luận văn nghiên cứu là khối thanh niên có hộ khẩu thường trú tại khu dân cư vùng nông thôn - khu vực mà người dân chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp. Khái niệm việc làm, việc làm cho thanh niên nông thôn a. Khái niệm việc làm Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội. Việc làm cho thanh niên nông thôn Là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Khái niệm tạo việc làm và đặc thù tạo việc làm cho thanh niên Tạo việc làm cho người lao động là việc tạo cho người lao động từ chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có việc làm và có thu nhập đảm bảo từ việc làm đó. Từ những quan niệm chung về tạo việc làm cho người lao động, có thể đưa ra cách tiếp cận về tạo việc làm cho thanh niên với tư cách là một lực lượng lao động đặc thù như sau: Thứ nhất, tạo việc làm cho thanh niên là tạo ra chỗ làm việc phù hợp với lứa tuổi, trình độ, tay nghề và sức khoẻ của lao động thanh niên.
Ở độ tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách. Thanh niên có thể được đào tạo nghề hoặc chưa qua đào tạo, do đó trình độ và tay nghề cũng chưa ổn định. Giải quyết việc làm cho lao động thanh niên phải quan tâm đến sự phù hợp này, phải tính đến khả năng phát triển của thanh niên trong tương lai cả về thể chất, trí tuệ và tâm lý. Thứ hai, tạo việc làm cho thanh niên phải tính đến yếu tố gia nhập thị trường lao động thường xuyên, liên tục của lực lượng này hàng năm.
Vấn đề này nếu không được tính toán đầy đủ, cộng với một tỷ lệ lao động thất nghiệp do mất việc làm và một lượng lao động chưa tìm được việc làm hàng năm sẽ tạo áp lực lớn về giải quyết việc làm cho người lao động của Nhà nước và xã hội. Thứ ba, trong tạo việc làm cho thanh niên, vấn đề tự tìm việc làm và tự tạo việc làm sẽ khó khăn hơn các đối tượng lao động khác. Nguyên nhân chủ yếu là thanh niên đang trong giai đoạn phát triển, muốn khẳng định bản thân nhưng tâm lý chưa ổn định, chưa tự chủ về bản thân mà cần có sự định hướng nghề nghiệp từ phía gia đình, nhà trường, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên. Thêm vào đó, thanh niên còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, 7 thiếu vốn,… nên trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, thanh niên khó có khả năng tự tạo việc làm ổn định cho bản thân.
Thứ tư, tạo việc làm cho thanh niên phải gắn với đào tạo thường xuyên, liên tục, góp phần bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bất kỳ lĩnh vực nào, người lao động cũng phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại để phù hợp với yêu cầu công việc. Với lao động thanh niên, điều này càng có ý nghĩa hơn. Do đó, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề và kỹ năng lao động gắn với tạo việc làm cho TNNT là xu hướng tích cực trong giai đoạn hiện nay.
Đặc điểm của nông thôn, thanh niên nông thôn, tạo việc làm cho thanh niên nông thôn và cung cầu lao động tác động tới giải quyết việc làm 1. Đặc điểm nông thôn tác động tới tạo việc làm Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ vùng, khu vực hành chính phân biệt với thành phố, thị xã, là khu vực lãnh thổ rộng lớn nằm ngoài thành thị. Đây là địa bàn cư trú của 53,7% dân số Việt Nam (tính đến 2016), ở đó người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Đặc điểm thanh niên nông thôn tác động tới tạo việc làm Về ưu điểm, phần đông TNNT cần cù, chịu khó, có khả năng chịu đựng khó khăn gian khổ vì họ đã quen với những điều kiện khó khăn và buộc phải đương đầu với những vất vả trong cuộc sống ngay từ nhỏ.
Bên cạnh đó, TNNT cũng đứng trước không ít hạn chế. Trình độ học vấn của đối tượng này nhìn chung còn thấp, vì vậy khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật không cao, khó tiếp cận các ngành nghề mới, ngại làm các công việc đòi hỏi khả năng tư duy. Năng lực tổ chức làm kinh tế của TNNT cũng ở trình độ thấp, điều này cản trở quá trình giải quyết việc làm và tham gia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của phần đông TNNT còn thấp, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít, ý thức kỷ luật của nhiều TNNT chưa cao.
Do đó 8 TNNT khó có cơ hội tìm được việc làm ở những ngành nghề có thu nhập cao. Cũng do việc tiếp cận thông tin chưa thuận lợi và rộng rãi nên cơ hội tiếp cận với việc làm và tự tạo việc làm của TNNT cũng hạn chế hơn các đối tượng khác. Điều này đòi hỏi các cấp ngành phải quan tâm, tạo điều kiện cung cấp thông tin chính thống, định hướng nghề nghiệp, việc làm một cách đầy đủ và đồng bộ để TNNT có sự lựa chọn nghề nghiệp, việc làm phù hợp với điều kiện của gia đình, khả năng của bản thân và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lược của địa phương, đất nước. Nhiều TNNT có tâm lý dễ thoả mãn với hiện tại nên thiếu động lực vươn lên trong cuộc sống.
Sự tự ty, ỷ lại, thiếu năng động, sáng tạo cũng làm cho TNNT ngại “bươn chải” với cuộc sống như phần đông thanh niên đô thị. Thêm vào đó, một bộ phận TNNT còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các phong tục, tập quán lạc hậu như xây dựng gia đình và sinh con sớm, kết hôn cận huyết. Do đó, chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực không cao. Một số thanh niên nhận thức mơ hồ, lệch lạc về kinh tế thị trường cùng với sự nông nổi của tuổi trẻ dễ dẫn đến thất bại trong sản xuất kinh doanh và dễ bị kẻ xấu lợi dụng.
Đặc điểm của tạo việc làm cho thanh niên nông thôn Việc làm của thanh niên nông thôn có các đặc điểm sau: - Khu vực nông thôn có đặc điểm chung là dân số tăng nhanh, cấu trúc dân số trẻ, dẫn đến lực lượng lao động ngày càng tăng. Khả năng tạo ra việc làm của nền kinh tế luôn thấp hơn nhu cầu việc làm của lao động nông thôn. Vấn đề tạo việc làm, do vậy là khá khó khăn đối với thanh niên nông thôn. - Lao động nông nghiệp ít chuyên sâu, trình độ thấp so với trong công nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp có nhiều loại công việc mang tính chất khác nhau. Một lao động thanh niên có thể làm được nhiều việc và một việc cũng do nhiều người đảm nhiệm. Phần lớn lao động thanh niên trong nông nghiệp là lao động phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất bằng kinh nghiệm là 9 chính, nguồn lao động chất xám không nhiều và lại phân bố không đều. Vì thế năng suất lao động thấp, khó khăn trong việc đưa khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp.
- Lao động nông nghiệp mang tính thời vụ: sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ của các quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên của từng vùng, tiểu vùng. Quá trình sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao, cho nên có thời kỳ cần ít lao động song cũng có những thời kỳ cần nhiều lao động. Do đó khả năng thu hút lao động nông nghiệp nông thôn là không đều và khác nhau trong từng gia đình sản xuất. Đối với ngành trồng trọt, việc làm chỉ chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại khá nhàn, còn gọi là thời kỳ nông nhàn trong nông thôn.
Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao đông trong nông thôn thường chuyển sang các công việc phi nông nghiệp hoặc sang các địa phương khác hành nghề để tăng thu nhập. Tình trạng thời gian nông nhàn và thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây nên hiện tượng di chuyển lao động nông thôn từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị. Chính hiện tượng này làm cho việc làm của lao động thanh niên nông thôn thường bấp bênh, công việc không ổn định. - Việc làm trong nông nghiệp, nông thôn thường là những công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và tư liệu cầm tay, dễ học hỏi, dễ chia sẻ.
Vì vậy khả năng thụ động của lao động cao, những sản phẩm làm ra từ chất lượng thường thấp, mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp nên thu nhập bình quân không cao, tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn còn khá cao so với khu vực đô thị. Ở nông thôn, có một số lớn công việc tại nhà không ổn định thời gian như trông nhà, nội trợ, trông con cháu… Bởi vậy, lao động thanh niên nông thôn thường có trình độ thấp, tay nghề kém, không đáp ứng công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao. 10 - Thị trường sức lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém phát triển.