Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trà tiếp cận vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp tại khu vực miền Trung, cụ thể là tỉnh Quảng Nam. Biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng Trái Đất nóng lên đã làm gia tăng tần suất, cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, trong đó hạn hán gây ra những tác động nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội, môi trường và an ninh lương thực. Quảng Nam là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hai mùa mưa - khô rõ rệt. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm và tập trung rất thấp vào mùa khô (chỉ chiếm 20 - 25% lượng mưa cả năm), kết hợp với địa hình dốc và tác động của gió phơn Tây Nam (gió Lào) làm cho tình trạng khô hạn trên địa bàn tỉnh ngày càng gay gắt.
Tại huyện Thăng Bình, xã Bình Trung là địa phương có nguồn sinh kế chính phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là canh tác lúa nước. Trước áp lực khô hạn kéo dài, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nước tưới và nước sinh hoạt, hoạt động sản xuất lúa của các hộ nông dân tại đây đối mặt với nhiều rủi ro sụt giảm năng suất và diện tích. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm thế nào để đánh giá đúng khả năng thích ứng của nông hộ trồng lúa và xác định các giải pháp giúp người dân ổn định sản xuất trong điều kiện hạn hán.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:
- Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng thích ứng của nông hộ trồng lúa dưới tác động của hạn hán tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thích ứng của nông hộ về hạn hán trong sản xuất lúa tại địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích nhận thức của nông hộ về thực trạng hạn hán tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Đánh giá khả năng thích ứng của nông hộ trồng lúa dưới tác động của hạn hán tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thích ứng của nông hộ về hạn hán trong sản xuất lúa tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Đối tượng khảo sát: Nông hộ trồng lúa tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng thích ứng của nông hộ trồng lúa dưới tác động của hạn hán.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (diện tích tự nhiên 19,2 km², diện tích đất nông nghiệp 1.140,55 ha, gồm 7 thôn và 43 tổ tự quản).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 06/03/2022 đến ngày 24/06/2022; số liệu thứ cấp thu thập qua các giai đoạn trước đó và số liệu điều tra sơ cấp phản ánh vụ sản xuất năm 2021 - 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành về kinh tế nông nghiệp và biến đổi khí hậu:
- Nông hộ: Được xác định là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn, là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất vừa tiêu dùng, vừa là đơn vị kinh doanh vừa là đơn vị xã hội, sử dụng chủ yếu lao động gia đình và tư liệu sản xuất từ ruộng đất.
- Biến đổi khí hậu và hiện tượng El Nino: Biến đổi khí hậu được phân tích dưới hai nhóm nguyên nhân khách quan (sự biến đổi bức xạ mặt trời, quỹ đạo Trái Đất, hoàn lưu khí quyển) và nguyên nhân chủ quan (hoạt động phát thải khí nhà kính, thay đổi mục đích sử dụng đất). Hiện tượng El Nino là sự nhiễu động của hệ thống khí quyển - đại dương vùng nhiệt đới Thái Bình Dương với chu kỳ 2 - 7 năm, kéo dài trung bình 11 tháng.
- Hạn hán và phân loại: Hạn hán là hiện tượng thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa kéo dài làm suy giảm độ ẩm đất và dòng chảy mặt. Văn bản phân loại hạn hán thành 4 nhóm hình thái: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thủy văn và hạn kinh tế - xã hội.
- Khả năng thích ứng: Là mức độ điều chỉnh có thể có trong hành vi, cấu trúc hoặc quy trình sản xuất của hệ thống (nông hộ/cộng đồng) nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trước tác động bất lợi của khí hậu và khai thác các cơ hội phát sinh.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa kỹ thuật thu thập dữ liệu định lượng và mô hình hóa kinh tế lượng:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 150 nông hộ trồng lúa bằng bảng câu hỏi cấu trúc tại xã Bình Trung, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể hộ canh tác lúa tại địa phương.
- Dữ liệu thứ cấp: Kế thừa và thu thập từ các báo cáo thống kê của Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình, Ủy ban nhân dân xã Bình Trung, Văn phòng Hợp phần thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, các nghiên cứu khoa học cùng đề tài và niên giám thống kê.
- Phương pháp tính chỉ số thích nghi cấp độ nông hộ (HACI - Household Adaptive Capacity Index):
Chỉ số HACI được tổng hợp từ 5 nhóm chỉ số thành phần gồm: Yếu tố xã hội ($S$), Yếu tố kinh tế ($E$), Yếu tố thực địa ($P$), Yếu tố tự nhiên ($N$), và Yếu tố định chế ($I$). Công thức tính HACI là giá trị trung bình có trọng số của các chỉ số thành phần:
$$HACI = \frac{\sum_{i=1}^n w_i S_i / \sum w_i + \sum_{j=1}^o w_j E_j / \sum w_j + \sum_{k=1}^p w_k P_k / \sum w_k + \sum_{l=1}^q w_l N_l / \sum w_l + \sum_{m=1}^r w_m I_m / \sum w_m}{5}$$
Các biến quan sát cụ thể gồm: tỷ số phụ thuộc ($S_1$), trình độ học vấn ($S_2$), ý thức đối phó thiên tai ($S_3$); tổng thu nhập ($E_1$), khả năng tiếp cận tài chính ($E_2$); khoảng cách đến công trình thủy lợi ($P_1$), mức phát triển và hiệu quả thủy lợi ($P_2$); phân vùng vị trí ($N_1$), mức độ hạn hán vùng ($N_2$); tiếp cận thông tin cảnh báo ($I_1$), sự quan tâm của nhà nước ($I_2$), sự quan tâm của đoàn thể ($I_3$). Trọng số ($w$) được xác định thông qua đánh giá của cộng đồng và nhóm nghiên cứu trên thang đo Likert 5 mức độ.
Thang phân loại khả năng thích nghi cấp độ nông hộ được chuẩn hóa như sau:
| Khoảng giá trị HACI |
Phân loại khả năng thích nghi |
| Dưới 0,20 |
Thích nghi rất thấp |
| Từ 0,20 đến 0,40 |
Thích nghi thấp |
| Từ 0,41 đến 0,60 |
Thích nghi trung bình |
| Từ 0,61 đến 0,80 |
Thích nghi cao |
| Từ 0,81 đến 1,00 |
Thích nghi rất cao |
- Mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển (OLS):
Mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số HACI có dạng:
$$HACI = \beta_0 + \beta_1 X_1 + \beta_2 X_2 + \beta_3 D_1 + \beta_4 X_3 + \beta_5 X_4 + \beta_6 X_5 + \beta_7 X_6 + \varepsilon$$
Trong đó: $X_1$ là trình độ học vấn (năm học, kỳ vọng dấu dương); $X_2$ là tuổi tác của chủ hộ (tuổi, kỳ vọng dấu âm); $D_1$ là biến giả giới tính (1 nếu là nam, 0 nếu là nữ, kỳ vọng dấu dương); $X_3$ là số lao động phi nông nghiệp của hộ (người/hộ, kỳ vọng dấu dương); $X_4$ là diện tích trồng lúa ($1.000\text{ m}^2$, kỳ vọng dấu dương); $X_5$ là tổng thu nhập của hộ (triệu đồng/năm, kỳ vọng dấu dương); $X_6$ là khoảng cách từ đất canh tác đến công trình thủy lợi (km, kỳ vọng tác động dấu âm/dương). Các kiểm định kinh tế lượng đi kèm gồm kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số $R^2$ phụ, kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định White ($W_{stat} = n \times R_{aux}^2$), và kiểm định tự tương quan bằng đại lượng thống kê Durbin - Watson ($d$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng hạn hán khắc nghiệt tại vùng duyên hải miền Trung, đặc biệt là tỉnh Quảng Nam và địa bàn xã Bình Trung, huyện Thăng Bình. Tác giả công bố hệ thống mục tiêu nghiên cứu (mục tiêu chung và 3 mục tiêu cụ thể), xác định đối tượng khảo sát là các nông hộ trồng lúa, đối tượng nghiên cứu là năng lực thích ứng với hạn hán, cùng phạm vi không gian tại xã Bình Trung trong khoảng thời gian từ ngày 06/03/2022 đến ngày 24/06/2022. Chương này cũng phân định bố cục tổng thể gồm 5 chương của khóa luận.
Chương 2: Tổng quan
Chương 2 tổng hợp các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan:
- Lược khảo nghiên cứu của Huỳnh Văn Chương và cộng sự (2020) về 90 hộ đồng bào Xơ Đăng tại Quảng Nam, ghi nhận mô hình xen canh heo và lúa rẫy (Pế-tru) đạt hiệu quả kinh tế cao nhất ($IRR = 10,23%$; $NPV = 2,6\text{ triệu đồng}$; thời gian thu hồi vốn 3,5 năm).
- Nghiên cứu của Võ Văn Tuấn và cộng sự (2014) với 23 nhóm nông dân trồng lúa tại 4 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu), chỉ rõ diện tích đất và tiếp cận thông tin là yếu tố thúc đẩy, còn thiếu lao động và thiếu vốn là rào cản thích ứng.
- Nghiên cứu của Lê Thị Hoa Sen và cộng sự (2017) tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị (50 hộ), nêu bật giải pháp chuyển đổi vụ lúa hè thu sang trồng đậu xanh và ngô được trên 90% hộ áp dụng.
- Khảo sát của Võ Thành Danh (2015) trên 1.814 hộ tại Trà Vinh ứng dụng khung phân tích HACI, xác định khả năng thích ứng xâm nhập mặn ở mức trung bình và chịu tác động bởi quy mô diện tích, giới tính và học vấn của chủ hộ.
- Mô hình xác suất đa biến của Madadgar, S. (2017) ước tính tác động của thiếu hụt mưa và độ ẩm đất đến suy giảm năng suất cây trồng tại Úc trong thời kỳ Hạn hán Thiên niên kỷ.
Phần tổng quan địa bàn chỉ ra các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình (diện tích $384,75\text{ km}^2$, dân số 173.276 người năm 2019, mật độ 450 người/$\text{km}^2$, có hệ thống sông Ly Ly và sông Trường Giang) và xã Bình Trung (diện tích $19,2\text{ km}^2$, dân số 12.158 người năm 2016, đất nông nghiệp $1.140,55\text{ ha}$). Về diễn biến hạn hán, tài liệu của Văn phòng Hợp phần thích ứng với BĐKH Quảng Nam ghi nhận trong 50 năm qua, độ dài mùa hạn tăng 0,219 tháng/thập kỷ (tương đương 6 - 7 ngày mỗi 10 năm); mùa hạn kéo dài trung bình 2,5 - 3,5 tháng. Toàn tỉnh có diện tích nguy cơ bị hạn lên tới 5.566 ha lúa Đông Xuân, 1.700 ha lúa Hè Thu; đợt hạn gay gắt từng làm 4.500 ha lúa Hè Thu bị hư hại do xâm nhập mặn (Duy Xuyên mất 460 ha lúa do sông Thu Bồn nhiễm mặn; Điện Bàn khô hạn gần 200 ha do sông Vĩnh Điện cạn kiệt; các huyện trung du - miền núi có trên 3.000 ha lúa không thể gieo sạ và 5.000 người thiếu nước sinh hoạt).
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 3 hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về nông hộ, biến đổi khí hậu, hiện tượng El Nino, định nghĩa hạn hán và 4 cấp độ phân loại hạn hán. Chương này trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 150 hộ, quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi và thu thập dữ liệu thứ cấp. Tác giả thiết lập công thức tính chỉ số HACI thông qua bảng 3.1 với 12 biến đo lường thuộc 5 nhóm chỉ số ($S, E, P, N, I$), phân chia 5 ngưỡng giá trị thích nghi từ rất thấp đến rất cao. Đồng thời, chương 3 mô tả cấu trúc mô hình hồi quy đa biến OLS gồm 7 biến độc lập giải thích cho HACI, giải trình kỳ vọng dấu kinh tế lượng theo các nghiên cứu của Hồ Thị Diễm Trang (2012), Võ Thành Danh (2015), Trần Hoài Nam và Nguyễn Thị Thu Hà (2017), và nêu rõ phương thức phát hiện khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến, White test cho phương sai thay đổi, kiểm định Durbin - Watson cho tự tương quan).
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 cung cấp số liệu thực nghiệm chi tiết từ cuộc điều tra 150 hộ nông dân tại xã Bình Trung:
- Đặc điểm mẫu điều tra: Chủ hộ là nam giới chiếm 69,33% (104 hộ), nữ giới chiếm 30,67% (46 hộ). Độ tuổi bình quân khoảng 52 tuổi; phân bổ theo nhóm tuổi: $\le 30$ tuổi có 7 hộ (4,67%), từ 30 đến 40 tuổi có 28 hộ (18,67%), từ 40 đến 50 tuổi có 30 hộ (20,00%), từ 50 đến 60 tuổi có 48 hộ, trên 60 tuổi có 37 hộ (24,67%). Trình độ học vấn tập trung ở bậc trung học cơ sở (42,00% - 63 hộ), tiểu học (26,67% - 40 hộ), trung học phổ thông (22,00% - 33 hộ), trung cấp/cao đẳng/đại học (6,67% - 10 hộ), và mù chữ (2,67% - 4 hộ). Quy mô gia đình phổ biến từ 4 - 6 người (52,67% - 79 hộ) và từ 6 - 8 người (36,67% - 55 hộ). Quy mô đất canh tác lúa phổ biến nhất từ 5.000 đến $10.000\text{ m}^2$ (64,00% - 96 hộ), nhóm dưới $5.000\text{ m}^2$ chiếm 22,00% (33 hộ), nhóm trên $20.000\text{ m}^2$ chỉ có 8 hộ (5,33%).
- Nhận thức về hạn hán: Có 73,33% nông hộ (110 hộ) hiểu biết về hạn hán, 26,67% (40 hộ) chưa nhận biết đầy đủ. 100% nông hộ xác nhận hạn hán diễn ra theo mùa cố định. Về mức độ tác động, 55,33% (83 hộ) đánh giá hạn hán tác động rất nhiều và 16,67% (25 hộ) đánh giá tác động nhiều. Mức độ quan tâm của nông hộ rất cao: 76,00% (114 hộ) rất quan tâm và 19,33% (29 hộ) khá quan tâm. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin cảnh báo hạn hán còn nhiều trở ngại: 46,00% (69 hộ) nhận định việc tiếp nhận thông tin là không dễ dàng và 21,33% (32 hộ) đánh giá rất không dễ dàng; chỉ có 7,33% hộ nhận thông tin rất dễ dàng. Kênh nắm bắt thông tin chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân quan sát cây trồng, vật nuôi (47,33% - 71 hộ), truyền miệng từ người xung quanh (20,67% - 31 hộ), tin tức báo đài/internet (17,33% - 26 hộ), và qua cán bộ địa phương tuyên truyền chỉ chiếm 8,00% (12 hộ).
- Tác động đến sản xuất và đời sống: Khảo sát biến động năng suất lúa năm 2021 so với năm 2020 ghi nhận có tới 87,33% hộ (131 hộ) bị giảm năng suất, 12,67% hộ (19 hộ) giữ nguyên và không có hộ nào tăng năng suất. Về các khía cạnh canh tác lúa, hạn hán tác động "rất nghiêm trọng" lớn nhất đến nguồn nước tưới (64,00% - 96 hộ), kế đến là sản lượng lúa thu hoạch (59,33% - 89 hộ) và sự sinh trưởng phát triển của cây lúa (56,00% - 84 hộ); riêng diện tích đất trồng chịu tác động ở mức bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất (50,67% - 76 hộ). Về cơ sở hạ tầng, 65,33% (98 hộ) có đất gần công trình thủy lợi, 34,67% (52 hộ) ở xa nguồn thủy lợi. Hạn hán cũng làm cạn kiệt tầng nước ngầm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt của 77,33% nông hộ (116 hộ dùng giếng khoan).
- Hỗ trợ từ phía Nhà nước: Biện pháp ứng phó của Nhà nước trước hạn hán được ghi nhận nhiều nhất là nạo vét kênh mương khơi thông dòng chảy (58,67% - 88 hộ), xây dựng hồ chứa tích nước (25,33% - 38 hộ), tuyên truyền phòng chống hạn (12,00% - 18 hộ).
- Chỉ số thích ứng HACI và phân tích hồi quy: Kết quả tính toán tổng hợp cho thấy chỉ số HACI bình quân của nông hộ trồng lúa tại xã Bình Trung đạt 0,60, phản ánh năng lực thích ứng tổng thể ở mức trung bình (thuộc khoảng 0,41 đến 0,60). Kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS xác định các biến có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến khả năng thích ứng của nông hộ bao gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính chủ hộ, số lao động phi nông nghiệp, quy mô diện tích canh tác và khoảng cách từ ruộng lúa đến công trình thủy lợi.
- Giải pháp ứng phó của nông hộ: Phân tích các biện pháp tự ứng phó trước, trong và sau hạn, đánh giá gánh nặng chi phí chuẩn bị và định hướng các giải pháp thích ứng dài hạn. Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm: nâng cao nhận thức nông hộ, giảm thiểu tác hại đến cây lúa và đầu tư - nâng cấp hạ tầng công trình thủy lợi.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương cuối cùng đúc kết kết quả nghiên cứu: khẳng định chỉ số HACI đạt 0,60 chứng minh năng lực thích ứng của nông hộ xã Bình Trung chỉ dừng ở mức trung bình; chỉ rõ các biến số ảnh hưởng cốt lõi từ mô hình kinh tế lượng. Từ đó, khóa luận đưa ra các nhóm kiến nghị cụ thể:
- Đối với Nhà nước: Tăng cường đầu tư kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp công trình thủy lợi chống hạn; hiện đại hóa mạng lưới thông tin dự báo sớm; hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật chuyển đổi giống lúa chịu hạn.
- Đối với nông hộ: Chủ động theo dõi lịch thời vụ; tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật; chủ động nạo vét kênh mương nội đồng; liên kết tổ hợp tác trong điều tiết nguồn nước tưới.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể về thực trạng nông hộ và năng lực thích ứng hạn hán tại địa bàn nghiên cứu:
| Nhóm chỉ tiêu khảo sát |
Số liệu định lượng được ghi nhận ($n = 150$) |
| Tỷ lệ hộ hiểu biết về hạn hán |
73,33% (110 hộ); 100% nhận thức hạn hán mang tính chu kỳ theo mùa |
| Mức độ quan tâm đến hạn hán |
76,00% rất quan tâm; 19,33% khá quan tâm |
| Mức độ tiếp cận thông tin hạn hán |
46,00% không dễ dàng; 21,33% rất không dễ dàng (chỉ 7,33% rất dễ dàng) |
| Kênh nhận biết thông tin chính |
47,33% qua kinh nghiệm bản thân; 20,67% qua người xung quanh |
| Biến động năng suất lúa năm 2021 |
87,33% hộ bị giảm năng suất; 12,67% không đổi; 0% tăng năng suất |
| Khía cạnh bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng |
Nguồn nước tưới: 64,00%; Sản lượng lúa: 59,33%; Cây lúa sinh trưởng: 56,00% |
| Tỷ lệ hộ bị ảnh hưởng nước sinh hoạt |
77,33% hộ (116 hộ) bị cạn kiệt nguồn nước giếng khoan sinh hoạt |
| Vị trí đất canh tác với thủy lợi |
65,33% gần công trình thủy lợi; 34,67% xa công trình thủy lợi |
| Biện pháp Nhà nước hỗ trợ trước hạn |
Nạo vét kênh mương: 58,67%; Xây hồ chứa: 25,33%; Tuyên truyền: 12,00% |
| Chỉ số năng lực thích ứng (HACI) |
0,60 (Mức độ thích ứng trung bình) |
| Các yếu tố hồi quy có ý nghĩa tác động |
Học vấn, giới tính, lao động phi nông nghiệp, diện tích, khoảng cách thủy lợi |
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp kỹ thuật và chính sách:
- Nâng cao nhận thức cho nông hộ: Đổi mới phương thức tuyên truyền từ cấp chính quyền cơ sở, khắc phục tình trạng 47,33% hộ phải tự nhận biết thiên tai bằng cảm tính cá nhân; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm dễ tiếp cận.
- Giảm thiểu tác động của hạn hán đến nông hộ: Hướng dẫn nông dân cơ cấu lại mùa vụ, chuyển đổi sang các giống lúa ngắn ngày hoặc giống có khả năng chịu hạn; chuyển dịch sinh kế nông hộ sang các ngành nghề phi nông nghiệp để phân tán rủi ro thu nhập.
- Giải pháp công trình thủy lợi: Đẩy mạnh nạo vét lòng dẫn kênh mương, tu bổ các hồ chứa nước mặt, quy hoạch mạng lưới phân phối nước hợp lý nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận nước tưới giữa các hộ ở xa và gần công trình thủy lợi.
Khóa luận đóng góp nguồn tư liệu điều tra thực địa mới tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình; áp dụng phương pháp định lượng đa biến kết hợp chỉ số thích ứng HACI vào phân tích kinh tế vi mô ở cấp độ nông hộ, tạo luận cứ thực tiễn cho công tác quản trị rủi ro thiên tai ở cấp xã.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn dựa trên phạm vi và dữ liệu thực tế:
- Hạn chế về phạm vi không gian và quy mô mẫu: Khảo sát dừng lại ở quy mô 150 hộ tại một xã duy nhất (Bình Trung, huyện Thăng Bình), chưa bao quát so sánh với các xã có đặc thù địa hình gò đồi, bán sơn địa phía Tây hoặc vùng bãi cát ven biển phía Đông của huyện Thăng Bình.
- Hạn chế về chuỗi dữ liệu thời gian: Dữ liệu điều tra năng suất lúa tập trung so sánh giữa hai năm 2020 và 2021 trong khoảng thời gian thực địa ngắn (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2022), chưa xây dựng được chuỗi dữ liệu bảng (panel data) nhiều năm để theo dõi biến động khả năng thích ứng theo thời gian dài hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang phân tích kinh tế lượng so sánh giữa các tiểu vùng sinh thái khác nhau tại tỉnh Quảng Nam; đánh giá sâu hơn hiệu quả tài chính và tỷ suất sinh lời của từng mô hình chuyển đổi cây trồng cạn thay thế lúa trên đất thiếu nước tưới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các nhóm đối tượng nghiên cứu và ứng dụng sau:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và Phát triển nông thôn: Tham khảo quy trình xây dựng khung chỉ số HACI gồm 5 thành phần ($S, E, P, N, I$), phương pháp thiết kế phiếu phỏng vấn điều tra nông hộ và quy trình kiểm định mô hình hồi quy OLS (White test, Durbin - Watson, đa cộng tuyến).
- Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông và chính quyền địa phương huyện Thăng Bình: Khai thác các dữ liệu thực chứng về mức độ thiếu hụt thông tin cảnh báo (67,33% hộ khó tiếp cận thông tin) và tỷ lệ ảnh hưởng của hạn hán đến nguồn nước sinh hoạt (77,33%) để xây dựng kế hoạch ứng phó thiên tai, điều tiết lịch tưới và nạo vét thủy lợi nội đồng sát thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số khả năng thích ứng (HACI) của các nông hộ trồng lúa tại xã Bình Trung đạt bao nhiêu và thuộc phân loại nào?
Chỉ số HACI tổng hợp của nông hộ trồng lúa tại địa phương đạt giá trị 0,60, thuộc phân nhóm Thích nghi trung bình (nằm trong khung điểm quy ước từ 0,41 đến 0,60).
2. Hạn hán tác động như thế nào đến năng suất lúa và khía cạnh sản xuất nào bị ảnh hưởng nặng nề nhất?
Khảo sát 150 hộ cho thấy có tới 87,33% hộ bị sụt giảm năng suất lúa năm 2021 so với năm 2020 (không có hộ nào tăng năng suất). Khía cạnh chịu tác động ở mức "rất nghiêm trọng" cao nhất là nguồn nước tưới cho cây lúa (chiếm 64,00% số hộ), tiếp theo là sản lượng lúa thu hoạch (59,33%) và sự sinh trưởng của cây lúa (56,00%).
3. Đa số nông hộ tại xã Bình Trung nhận biết thông tin hạn hán qua kênh nào và mức độ tiếp cận ra sao?
Có tới 47,33% nông hộ nhận biết hạn hán dựa trên kinh nghiệm bản thân thông qua biến đổi của cây trồng và vật nuôi; kênh tuyên truyền của cán bộ chỉ chiếm 8,00%. Về mức độ dễ dàng tiếp cận thông tin, 46,00% hộ đánh giá là không dễ dàng và 21,33% đánh giá rất không dễ dàng (tổng cộng 67,33% hộ gặp trở ngại khi tiếp nhận thông tin cảnh báo hạn hán).
4. Mô hình hồi quy OLS xác định những yếu tố nào có ảnh hưởng đến khả năng thích ứng (HACI) của nông hộ?
Theo kết quả mô hình hồi quy của khóa luận, khả năng thích ứng của nông hộ chịu tác động có ý nghĩa bởi 5 yếu tố chính: trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính chủ hộ, số lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp, quy mô diện tích đất trồng lúa và khoảng cách từ diện tích canh tác đến công trình thủy lợi.
5. Ngoài sản xuất nông nghiệp, hạn hán còn gây ra tác động trực tiếp nào đến đời sống người dân xã Bình Trung?
Hạn hán làm hạ thấp mực nước ngầm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt của 77,33% số hộ điều tra (116 hộ) do người dân địa phương chủ yếu dựa vào nguồn nước khai thác từ giếng khoan.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trà đã phân tích toàn diện thực trạng hạn hán và lượng hóa năng lực ứng phó của 150 nông hộ trồng lúa tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu xác định chỉ số khả năng thích ứng tổng hợp (HACI) của nông hộ đạt mức trung bình (0,60), đồng thời chứng minh các rào cản lớn về hạ tầng nước tưới, nguồn thông tin cảnh báo và sự sụt giảm năng suất của 87,33% hộ canh tác. Mô hình hồi quy đã chỉ ra vai trò quyết định của học vấn, giới tính, quy mô đất đai, lao động phi nông nghiệp và khoảng cách thủy lợi đối với năng lực thích nghi. Những phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực phục vụ hoạch định chính sách đầu tư thủy lợi và chuyển đổi lịch mùa vụ thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng duyên hải miền Trung.