Mở đầu Giới thiệu và trình bày đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Tổng Quan Mô tả tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện và tổng quan về địa bàn nghiên cứu tỉnh Quảng Nam, cụ thể là xã Bình Trung thuộc huyện Thăng Bình (đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội,…) Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày chi tiết những vấn đề lý luận, nôi dung và giới thiệu các phương pháp nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận Nêu lên các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện nghiên cứu và phân tích thảo luận các kết quả đạt được về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Chương 5: Tổng kết và kiến nghị Trình bày các kết quả nghiên cứu chính đạt được và ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu đó.
Từ đó đề ra các kiến nghị có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm cải thiện tốt 3 Đại học Kinh tế Huế CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo Huỳnh Văn Chương và cộng sự (2020) đã tiến hành nghiên cứu Mô hình canh tác nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiều các mô hình canh tác nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu với đối tượng tham gia chính là 90 hộ dân tộc thiểu số Xơ Đăng. Ba kết quả chính được phát hiện trong quá trình điều tra gồm: thứ nhất, người Xơ Đăng nhận thức được việc khí hậu đang thay đổi và có tác động đến sinh kế của họ; hầu hết hộ đồng ý rằng hạn hán đang kéo dài hơn; tần suất của các đợt lũ lụt, bão có xu hướng giảm dần nhưng mạnh hơn; thứ hai, người dân đưa ra bốn biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm: điều chỉnh lịch canh tác, điều chỉnh kỹ thuật canh tác, sử dụng giống bản địa và xen canh cây trồng; thứ ba, trong năm mô hình canh tác chính, xen canh heo và lúa rẫy (Pế-tru) là mô hình thích ứng có hiệu quả kinh tế cao nhất với các giá trị IRR = 10,23%; NPV đạt 2,6 triệu đồng; thời giạn thu hồi vốn là 3,5 năm.
Kết quả cũng cho thấy có hai yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa tới hiệu quả kinh tế của mô hình này là giống keo và khoảng cách từ rẫy keo đến đường chính. Theo Võ Văn Tuấn, và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu Khả năng thích ứng của nông dân đối với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã đánh giá khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đối với tác động của biến đổi khí hậu. Khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa được đánh giá tại 4 tỉnh phía Nam Sông Hậu thuộc các đặc thù sinh thái khác nhau tùy theo chế độ 4 Đại học Kinh tế Huế thủy văn và đặc tính đất đai, bao gồm: An Giang (lũ), Cần Thơ (phù sa), Hậu Giang (đất phèn) và Bạc Liêu (nước mặn).
Phương pháp được sử dụng là tiếp cận định tính, chủ yếu là thảo luận nhóm. Có 23 nhóm nông dân được thảo luận, các nhóm này được phân chia theo quy mô sở hữu đất nông nghiệp (nhỏ và lớn hơn 1 ha) và hệ thống canh tác chính dựa trên nền lúa tại các điểm nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy rằng các hiểm họa chính được nông dân chỉ ra là nhiệt độcao bất thường, ngập úng do lũ và mưa, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch hại trên lúa. Nông dân đã và đang ứng phó lại các tác động này; tuy vậy, bên cạnh các yếu tố thúc đẩy, họ đang đối mặt với nhiều yếu tố gây cản trở quá trình thích ứng.
Các yếu tố thúc đẩy gồm có diện tích đất lúa và hiệu quả sử dụng tài nguyên, phương tiện tiếp cận thông tin và các tổ chức không chính thức tại cộng đồng (CLB giống và khuyến nông). Các yếu tố cản trở đa dạng hơn, chẳng hạn như thiếu lao động, đất canh tác hạn chế, ô nhiễm nước mặn, thiếu vốn cục bộ và tham gia đoàn thể địa phương. Theo Lê Thị Hoa Sen và cộng sự (2017) đã tiến hành nghiên cứu Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa tại xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất lúa của nông hộ và các giải pháp thích ứng mà nông hộ đã áp dụng để giảm thiểu những tác động đó.
Thông tin của nghiên cứu được thu thập qua 2 cuộc thảo luận nhóm gồm 12 nông dân đại diện của 6 thôn trong xã; phỏng vấn sâu 4 lãnh đạo xã và người am hiểu sâu về sản xuất lúa; và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi cấu trúc 50 hộ sản xuất lúa của xã. Kết quả cho thấy 100% nông hộ đã nhận thấy các tác động rõ rệt của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa, gồm hạn hán, nhiễm mặn và rét đậm. Nhiều hoạt động thích ứng đã được nông hộ thực hiện để giảm rủi ro, trong đó hoạt động chuyển đổi lúa hè thu sang trồng đầu xanh và ngộ là hoạt động thích ứng, được hơn 90% hộ nông dân áp dụng. Tất cả các hộ chuyển đổi khẳng định đây là giải pháp góp phần lớn làm giảm thiếu tác động của biến đổi khí hậu, mang lại hiệu quả cao về cả kinh tế, xã hội và môi trường, có khả năng nhận rộng trên địa bàn.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như áp dụng các giải pháp thích ứng hạn, rét và nhiễm mặn trong sản xuất lúa còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch nên vẫn tiềm ẩn những rủi ro. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp để hạn chế rủi ro và nâng cao năng lực thích ứng của nông hộ trong sản xuất lúa ở địa bàn nghiên cứu. 5 Đại học Kinh tế Huế Theo Võ Thành Danh (2015) đã tiến hành nghiên cứu Đánh giá năng lực thích nghi đối với xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng ven biển tỉnh Trà Vinh. Bài viết trình bày mức độ thích nghi ở cả hai cấp độ nông hộ và cộng đồng đối với xâm nhập mặn gây ra cho sản xuất nông nghiệp tại ba huyện ven biển: Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú của tỉnh Trà Vinh.
Sử dụng số liệu điều tra từ1.814 hộ sản xuất lúa, màu và nuôi trồng thủy sản theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, chỉ số khả năng thích nghi được xác định từ năm chỉ số thành phần là yếu tốxã hội, yếu tố kinh tế, yếu tố thực địa, yếu tố tự nhiên, và yếu tố định chế với quyền số trung bình như nhau. Kết quả tính toán đã cho thấy khả năng thích nghi của nông hộ đối với xâm nhập mặn ở mức trung bình. Khả năng thích nghi của nông hộ ở hai huyện Cầu Ngang và Trà Cú cao hơn so với huyện Duyên Hải. Điều này được giải thích là do ảnh hưởng của yếu tố kinh tế - xã hội lớn hơn nhiều so với các yếu tố khác như các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên.
Đối với khả năng thích nghi cấp độ cộng đồng, các yếu tố xã hội, thực địa và tự nhiên góp phần làm tăng khả năng thích nghi trong khi các yếu tố kinh tế và định chế làm giảm năng lực thích nghi của cộng đồng. Kết quả phân tích hồi quy cũng cho thấy quy mô diện tích canh tác, giới tính của chủ hộ, và trình độ học vấn của chủ hộlà những yếu tố tác động đến khả năng thích nghi của nông hộ. Theo Madadgar, S (2017) đã tiến hành Ước tính xác suất về tác động của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy mức độ nghiêm trọng và tần suất xảy ra của hạn hán trong điều kiện khí hậu ấm lên có thể tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực.
Nghiên cứu phát triển mô hình xác suất đa biến sử dụng các điều kiện khí hậu dự kiến như lượng mưa hoặc độ ẩm của đất trong suốt một mùa trồng trọt để ước tính xác suất của năng suất cây trồng. Chúng tôi nhận thấy rằng lượng mưa và độ ẩm của đất thiếu hụt trong các mùa trồng trọt khô hạn đã làm giảm năng suất trung bình hàng năm của 5 loại cây trồng lớn nhất ở Úc (lúa mì, đậu rộng, cải dầu, lupin và lúa mạch) so với các mùa trồng trọt ẩm ướt. Do đó, mô hình của chúng tôi có thể tạo ra sự nhạy cảm của nông nghiệp theo vùng và từng loại cây trồng cụ thể đối với các điều kiện và sự biến đổi khí hậu. Các ước tính xác suất về năng suất có thể giúp các nhà ra quyết định trong chính phủ và doanh nghiệp đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương của nông nghiệp trước các biến đổi khí hậu.
Chúng tôi phát triển một mô hình xác suất đa biến sử dụng lượng mưa để ước tính phân phối xác suất của năng suất 6 Đại học Kinh tế Huế cây trồng. Mô hình đề xuất cho thấy sự phân bố xác suất của năng suất cây trồng thay đổi như thế nào để ứng phó với hạn hán. Trong thời kỳ Hạn hán Thiên niên kỷ của Úc, lượng mưa và độ ẩm đất thiếu hụt đã làm giảm năng suất trung bình hàng năm của năm loại cây trồng lớn nhất. Tổng quan địa bàn ngiên cứu 2.1 Điều kiện tự nhiên a.
Vị trí địa lí Hình 2. Bản đồ ranh giới hành chính huyện Thăng Bình – tỉnh Quảng Nam. Nguồn: UBND huyện Thăng Bình 7 Đại học Kinh tế Huế Thăng Bình là một huyện nằm giữa tỉnh Quảng Nam, có thị trấn Hà Lam làm huyện lỵ, Thăng Bình ở tọa độ 15030’ đến 15059’ vĩ độ Bắc và từ 10807’ đến 108030’ kinh độ Đông.Vị trí tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp huyện Quế Sơn và Duy Xuyên. Phía Nam giáp thành phố Tam Kì và huyện Phú Ninh.
Phía Đông giáp biển Thái Bình Dương. Phía Tây giáp huyện Tiên Phước và Hiệp Đức. Toàn huyện Thăng Bình có 21 xã, thị trấn; có diện tích tự nhiên 384,75 km2, dân số năm 2019 là 173.276 người, mật độ dân số đạt 450 người/km2. Đất đai ở Thăng Bình chia làm nhiều vùng khác nhau: vùng ven biển chủ yếu là đất cát trắng; vùng đồng bằng trung du bán sơn địa và miền núi rừng rậm rạp, đất đai khô cằn, bạc màu hoặc bị đá ong hoá.
Hiện nay diện tích gò đồi, núi trọc chiếm 2/5 diện tích đất đai của huyện.