Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Tổng quan về nông thôn mới 1. Nông thôn “Nông thôn” là một khái niệm thông dụng nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở thì "Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp" [51, tr.
Theo định nghĩa này, có thể hiểu nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng chỉ sản xuất nông nghiệp là chính. Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”. Nông thôn mới Các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau về NTM.
Tuy vậy, theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (khóa X) ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; NTM được hiểu là " nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường". NTM có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản: Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân nông 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý công thôn ngày càng nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; Thứ năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Xây dựng nông thôn mới XD NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã của mình khang trang, sạch đẹp; góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển một cách toàn diện trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; an ninh nông thôn được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, nguời dân được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo. XD NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị; XD NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới Quản lý nhà nước Thuật ngữ “Quản lý nhà nước” được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: QLNN là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ là hoạt động hành pháp, theo đó QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ QLNN. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng và tổ chức bộ máy, củng cố chế độ công tác nội bộ của mình [16, tr.
Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội 10 Luận văn thạc sỹ Quản lý công và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự xã hội nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Từ khái niệm “Quản lý nhà nước” và khái niệm về “nông thôn mới”, có thể hiểu: Trước hết, QLNN về XD NTM là một trong những bộ phận của QLNN. QLNN về XD NTM là tập hợp tất cả các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước tác động vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đảm bảo cho cuộc sống người dân nông thôn ngày càng tốt đẹp hơn thông qua thực hiện Chương trình XD NTM.
Hay nói cách khác, QLNN về XD NTM chính là việc Nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng các chính sách, kế hoạch và triển khai các chương trình hỗ trợ nhằm tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn, làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và được tăng cường; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Chủ thể của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Chủ thể của QLNN về XD NTM là các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới địa phương được giao nhiệm vụ QLNN về nông nghiệp, nông thôn, XD NTM. Ở Trung ương là Chính phủ, bộ, ban, ngành có liên quan, trong đó Bộ NN&PTNN là cơ quan thường trực, giúp Chính phủ và BCĐ Trung ương về XD NTM thực hiện QLNN. Ở địa phương bao gồm UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn của từng cấp như cấp tỉnh: Sở NN&PTNN, các ngành có liên quan, cấp huyện: Phòng nông nghiệp và các phòng chuyên môn có liên quan.
Khách thể QLNN về XD NTM là tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội, môi 11 Luận văn thạc sỹ Quản lý công trường, an ninh - quốc phòng và đối ngoại với mục tiêu là duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, cũng cố và tăng cường quyền lực nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng thành công Chương trình mục tiêu quốc gia XD NTM. Trong hoạt động QLNN về XD NTM, nhân tố quan trọng có tính chất quyết định sự thành công hay thất bại của Chương trình đó là vấn đề tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý điều hành. Tổ chức bộ máy quản lý XD NTM, đó là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau được bố trí thành từng cấp, từng khâu để thực hiện chức năng QLNN theo mục tiêu đã xác định. Bộ máy QLNN về XD NTM tập trung thống nhất trên phạm vi cả nước.
Đây là nội dung quan trọng trong XD NTM, bởi bộ máy QLNN được kiện toàn thì các công tác định hướng, tổ chức hoạt động hỗ trợ, kiểm tra, giám sát mới được thực hiện tốt, và nếu không có bộ máy quản lý này thì cũng sẽ không thực hiện XD NTM được. Hệ thống cơ quan QLNN về XD NTM mang tính hành chính nhà nước gồm bộ máy QLNN về XD NTM có thể xác lập 02 hệ thống cơ bản: 1. Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện trực tiếp QLNN liên quan đến các lĩnh vưc nông thôn, nông ngiệp, nông dân và XD NTM theo qui định của pháp luật. Ban chỉ đạo XD NTM từ Trung ương đến cơ sở do Chính phủ, UBND các cấp thành lập có nhiệm vụ tư vấn, tham mưu và tham gia điều phối để tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả, QLNN về XD NTM.
Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện trực tiếp QLNN về XD NTM: Ở Trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý toàn bộ việc thực hiện Chương trình, trong đó giao cho các bộ, ngành có trách nhiệm như sau: - Các bộ ngành được phân công thực hiện các nội dung của Chương trình chịu trách nhiệm về việc xây dựng cơ chế, chính sách; hướng dẫn xây dựng các đề án, dự án để thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về XD NTM, đồng thời đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện ở cơ sở. - Bộ NN & PTNN là cơ quan thường trực Chương trình, có nhiệm vụ: 12 Luận văn thạc sỹ Quản lý công + Giúp Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo thực hiện Chương trình; chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Chính Phủ. + Đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương và Chính phủ. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành có liên quan cân đối và phân bổ nguồn lực cho Chương trình thuộc nguồn vốn ngân sách Trung ương; phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý thực hiện Chương trình.