Luận Văn Thạc Sĩ: Huy Động Nguồn Lực Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Tỉnh Lào Cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh lào cai, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Chiến lược huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại Lào Cai

Chiến lược huy động nguồn lực là yếu tố then chốt trong việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại Lào Cai. Tỉnh đã xác định rõ mục tiêu huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, và cộng đồng dân cư để đầu tư vào phát triển nông thôn. Các nguồn lực này bao gồm tài chính, đất đai, nhân lực và các nguồn lực khác như vật liệu xây dựng. Lào Cai đã triển khai nhiều chính sách nhằm thu hút đầu tư và tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

1.1. Huy động nguồn lực tài chính

Huy động nguồn lực tài chính là một trong những trọng tâm của chiến lược. Tỉnh đã tận dụng nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời khuyến khích sự đóng góp từ các doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn từ ngân sách nhà nước vẫn chiếm phần lớn, trong khi nguồn lực từ doanh nghiệp và dân cư còn hạn chế. Điều này đòi hỏi Lào Cai cần có các giải pháp linh hoạt hơn để thu hút đầu tư tư nhân.

1.2. Huy động nguồn lực đất đai

Huy động nguồn lực đất đai là một thách thức lớn do đặc thù địa hình và quy hoạch chưa đồng bộ. Tỉnh đã thực hiện các biện pháp quản lý và sử dụng đất hiệu quả, đồng thời khuyến khích người dân đóng góp đất đai cho các dự án công cộng. Tuy nhiên, việc huy động đất đai vẫn gặp nhiều khó khăn do sự phân bố dân cư rải rác và nhận thức của người dân chưa đồng đều.

II. Phát triển nông thôn bền vững tại Lào Cai

Phát triển nông thôn bền vững là mục tiêu quan trọng trong chiến lược của Lào Cai. Tỉnh đã tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Các chương trình như hợp tác xã nông nghiệpđổi mới sáng tạo trong nông nghiệp đã được triển khai để tăng năng suất và thu nhập cho người dân.

2.1. Cải thiện cơ sở hạ tầng

Cải thiện cơ sở hạ tầng là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển nông thôn. Lào Cai đã đầu tư vào hệ thống giao thông, điện, nước sạch và các công trình công cộng khác. Tuy nhiên, việc triển khai còn chậm do nguồn lực hạn chế và địa hình phức tạp. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

2.2. Phát triển kinh tế nông thôn

Phát triển kinh tế nông thôn được thúc đẩy thông qua các chương trình hỗ trợ nông dân ứng dụng công nghệ cao và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hợp tác xã nông nghiệp đã được thành lập để tăng cường liên kết giữa các hộ sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của các mô hình này còn hạn chế do thiếu vốn và năng lực quản lý.

III. Quản lý nguồn lực và chính sách nông thôn

Quản lý nguồn lực hiệu quả là yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới. Lào Cai đã thực hiện các chính sách nhằm tăng cường minh bạch và công khai trong việc huy động và sử dụng nguồn lực. Các chính sách như đầu tư nông thônchương trình nông thôn mới đã được triển khai để hỗ trợ phát triển toàn diện.

3.1. Chính sách nông thôn

Chính sách nông thôn của Lào Cai tập trung vào việc hỗ trợ người dân phát triển sản xuất và nâng cao đời sống. Các chính sách như hỗ trợ vốn, đào tạo nghề và xây dựng cơ sở hạ tầng đã được triển khai. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này còn hạn chế do thiếu sự đồng bộ và nguồn lực không đủ.

3.2. Quản lý nguồn lực

Quản lý nguồn lực được thực hiện thông qua việc xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực. Lào Cai đã thành lập các ban giám sát cộng đồng để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Tuy nhiên, việc quản lý vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Nông thôn mới và sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn Khái niệm nông thôn hiện nay được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Khái niệm và đặc trưng của nông thôn mới Hiện nay có rất nhiều khái niệm về nông thôn mới, một cách khái quát về nông thôn mới như sau: Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.

Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.

“Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. (Đặng Thị Thu Thịnh, 2019) 6 “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. “Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.” “Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao động 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH – HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm: ” “- “Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;” “ “- “Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;” “- “Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; ” “- “An ninh tốt, quản lý dân chủ.

” “- “Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới Nền nông nghiệp nông thôn nước ta là một nền nông nghiệp kém phát triển do chịu sự tàn phá của chiến tranh, cơ sở hạ tầng manh mún, người dân lại thiếu kiến thức. Các khó khăn đối với nền nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam phải kể đến: “- Kết cấu hạ tầng nội thôn còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ như điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông tại nông thôn ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi đã xuống cấp cần được đầu tư; mạng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, đặc biệt mạng lưới chợ nông thôn còn nhỏ lẻ, manh mún, không có cơ sở hạ tầng, 7 tự phát. Mặt khác, dân cư khu vực nông thôn phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển là một khó khăn trong xây dựng nông thôn mới.” “- Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ.

Các khâu như bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ.”” “- Thu nhập của người nông dân phần đa là thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; chưa tạo ra sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn. Các thành phần kinh tế như kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã tuy có mở ra nhưng là hình thức còn nhiều yếu kém. Là một nước nông nghiệp tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn thấp do tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp.” “- Với xu thế phát triển như hiện nay, nhiều nét văn hoá truyền thống đang dần có nguy cơ mai một như tiếng nói, phong tục, trang phục…; các sinh hoạt truyền thống tại thôn, bản, làng không thu hút được các bạn trẻ tham gia.”” “- Yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sử dụng một cách phổ biến lao động được đào tạo, cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động cao và tạo ra những biến đổi về chất trong toàn bộ các hoạt động của đời sống xã hội.

Xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu này.” 8 Với mục tiêu đến năm 2020 là nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp không còn là nước có nền nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn. (Đặng Thị Thu Thịnh, 2019) Để xây dựng nông thôn mới thành công, vai trò chủ thể của người dân mang ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở các vấn đề sau: “- Người dân được quyền tham gia ý kiến vào đề án xây dựng nông thôn mới và đồ án quy hoạch nông thôn mới cấp xã; tham gia lập kế hoạch thực hiện Chương trình ở thôn, xã.” “- Người dân tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau sao cho thiết thực và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương.” “- Người dân được quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã.” “- Người dân trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của thôn, xã theo kế hoạch hàng năm.” “- Người dân được quyền cử đại diện là ban giám sát để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của thôn, xã.” “- Người dân được tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.” Xây dựng nông thôn mới là "của dân, do dân và phục vụ lợi ích vì nhân dân". Do đó, bên cạnh các quyền lợi được hưởng người dân có trách nhiệm: “- Tích cực tham gia phát triển sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm.” “- Có ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.

9 “- Dân cư thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới; cho con em trong độ tuổi đi học đến trường, không có tình trạng bỏ học giữa chừng.” “- Trang trí nơi ở của gia đình sạch sẽ, đảm bảo có nước sạch để dùng, có nhà vệ sinh, bố trí khu chăn nuôi xa khu dân cư, đảm bảo vệ sinh môi trường; cải tạo vườn tạp, ao hồ, làm tường rào quanh nhà; có trách nhiệm cùng tổ dân phố duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng, giữ đường thôn, ngõ xóm sạch, đẹp; thực hiện tốt các quy định của Nhà nước khi tham gia giao thông, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.” “- Tích cực tham gia đóng góp ý kiến cho đề án xây dựng Nông thôn mới và đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới của địa phương mình.” Cùng cộng đồng dân cư chủ động đề xuất với Chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch các công việc cần làm để đáp ứng đúng nhu cầu của người dân trên địa bàn, phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương.” “- Tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới và vận động cộng đồng cùng tham gia với Nhà nước để xây dựng nông thôn mới.” “- Tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng trên địa bàn xã, tổ chức nhóm hộ trực tiếp nhận xây dựng các công trình vừa và nhỏ. Khái niệm nguồn lực và nguồn lực xây dựng nông thôn mới Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường…ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Nguồn lực xây dựng NTM được phân loại theo tính chất của nguồn lực huy động bao gồm: nguồn lực tài chính (vốn), nguồn nhân lực (công lao động), nguồn lực tự nhiên (đất đai.) và các nguồn lực khác. - Nguồn lực tài chính (vốn): Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, nguồn vốn cho xây dựng NTM bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án hỗ trợ có 10 mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo; vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại); vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác; vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chiến lược huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại Lào Cai" tập trung vào các phương pháp hiệu quả để thu hút và quản lý nguồn lực nhằm thúc đẩy chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Lào Cai. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các chiến lược huy động vốn, nguồn nhân lực, và tài nguyên thiên nhiên, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để tối ưu hóa hiệu quả của chương trình. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức triển khai và duy trì các tiêu chí nông thôn mới, cũng như tác động tích cực của chúng đến đời sống kinh tế - xã hội địa phương.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Tuyên Quang, và Giải pháp duy trì các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Giang. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về các chiến lược và thách thức trong xây dựng nông thôn mới tại các địa phương khác nhau.