CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm về đất đai. Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong các hoạt động, cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, những định nghĩa về đất.
Một quan điểm đầu tiên và khá hoàn chỉnh của Docutraiep ( 1879) cho rằng: “ Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: Đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thời gian.” Tuy nhiên khái niệm này chưa đề cập đến các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, sau này đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều quan điểm bổ sung như: nước của đất, nước ngầm, và vai trò của con người để hoàn thiện khái niệm nêu trên [3]. Một số quan điểm sau này của các nhà nghiên cứu: Học giả người Anh là V.R William đã đưa thêm khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây”; E.Mitchulich (1923) cho rằng: “ đất chỉ là giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dưỡng” và “ Đất là khối hỗn hợp gồm các phần tử nhỏ cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật”. Còn Karmax đã viết “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt các thế hệ loài người kế tiếp nhau”. Khái niệm về đất đai có thể được hiểu tương đối hoàn chỉnh như sau: Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng gồm: lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, mặt nước 5 ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo chiều nằm ngang - trên bề mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật, cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người Khoa học về đánh giá đất đai hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của sản xuất nông nghiệp, khoa học về nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác.
Đánh giá đất có thể được hiểu là là một phần quan trọng nhất của việc đánh giá nguồn tài nguyên, thiên nhiên và đây chính là cơ sở để có định hướng sử dụng đất đai hợp lý, bền vững. Từ lâu Đánh giá đất đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu, cụ thể qua các kết quả của các tổ chức như: FAO-Unesco và đây cũng là một quy trình cơ bản nhất, hiệu quả trong công tác đánh giá đất [25]. Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Việc phân loại đất hiện nay ở Việt Nam theo 02 cách: - Phân loại đất theo thổ nhưỡng: (theo Khoa học đất).
Mục đích để xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Có 3 trường phái chủ yếu: • Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh • Phân loại đất theo định lượng các tầng đất • Phân loại đất theo FAO – UNESCO - Phân loại đất theo mục đích sử dụng đất: • Căn cứ vào quỹ đất, mục đích sử dụng đất, chính sách thuế, các nước có bảng phân loại đất khác nhau: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng ( đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất khu công nghiệp, đất thương mại, du lịch, sinh thái, bảo tồn), đất đô thị, đất ven đô thị, đất an ninh quốc phòng, đất ở và hành chính nông thôn, đất chưa sử dụng, đất hoang… 6 • Đối với Việt nam: từ 01/7/2004 theo quy định của Luật đất đai 2003, đất đai được chia thành 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Khái niệm về đất nông, lâm nghiệp và nông, lâm trường Theo pháp luật đất đai thì: - Đất Nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. - Đất Lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng, và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ đẻ phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp.
Qua thực tiễn cho thấy diện tích đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 9,07% tổng diện tích đất tự nhiên trên toàn cầu, đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự tồn tại và phát triển của loài người, tuy nhiên loại đất này đang giảm mạnh về cả số lượng và chất lượng. Nước ta với diện tích đất nông nghiệp khoảng 3,3 triệu ha, bình quân diện tích thuộc hàng thấp trên thế giới, đồng thời diện tích đất trên phân bố không đồng đều [5,6]. - Nông, lâm trường là một tổ chức kinh tế tương đương với Doanh nghiệp Nhà nước, chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, việc tổ chức, quản lý, chế độ phân phối thu nhập, tiền lương, được điều chỉnh theo các quy định của Nhà nước đối với một Doanh nghiệp Nhà nước. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ , hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại.
7 Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có được lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả [7]. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [14].
Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp [17]. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ư u thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững [13]. Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường.
* Hiệu quả kinh tế Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel- 8 Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”.
Theo cac nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [24]. Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề [8,9]: Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”. Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống.
Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ lợi ích của con người. Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 loại đối tượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế [22].