Tổng quan nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đang thúc đẩy hàng loạt dự án hạ tầng, khu công nghiệp và khu đô thị phát triển, kéo theo hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi. Tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ – một huyện trung du miền núi cách trung tâm tỉnh 56 km – đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối và là tư liệu sản xuất chủ yếu của phần lớn cư dân địa phương. Giai đoạn 2013 - 2018, công tác giải phóng mặt bằng được xem là khâu đột phá để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, song cũng đẩy hàng nghìn hộ nông dân vào tình trạng mất đất canh tác, thiếu việc làm và đối mặt với nhiều rủi ro an sinh xã hội.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp bền vững cho người nông dân sau thu hồi đất. Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng công tác tạo việc làm tại huyện Đoan Hùng trong giai đoạn 2013 - 2018. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao thu nhập, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp và bảo đảm đời sống ổn định cho người dân đến năm 2020 và tầm nhìn 2025.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tập trung phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn 2013 - 2018 tại các dự án trọng điểm như tuyến đường kết nối cầu Kim Xuyên với Quốc lộ 2 và khu dân cư phía Tây Nam thị trấn Đoan Hùng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ sinh kế, phấn đấu bảo đảm 100% hộ dân bị thu hồi đất ổn định cuộc sống và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 80%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đồng bộ nhiều lý thuyết kinh tế và xã hội học kinh điển để luận giải bài toán chuyển dịch việc làm của lao động nông nghiệp khi mất tư liệu sản xuất:
Mô hình kinh tế nhị nguyên của Arthur Lewis đóng vai trò nền tảng trong việc phân tích dòng chuyển dịch lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp hiện đại. Lý thuyết chỉ rõ sự chênh lệch tiền công và tốc độ tích lũy vốn của khu vực sản xuất công nghiệp là động lực chính thu hút lao động nông thôn.
Mô hình di cư nông thôn - đô thị của Harris và Todaro giải thích quyết định tìm kiếm việc làm dựa trên mức thu nhập kỳ vọng tại đô thị so với thu nhập thực tế tại nông thôn, từ đó gợi mở các chính sách điều tiết tiền lương và phát triển việc làm tại chỗ.
Lý thuyết tạo việc làm trong nông nghiệp châu Á của Harry Toshima nhấn mạnh đặc thù thời vụ của nền nông nghiệp lúa nước, đề xuất giải pháp tận dụng thời gian nông nhàn thông qua đa dạng hóa cây trồng, thâm canh và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
Khung phân tích của đề tài chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi: việc làm theo Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012; hộ nông dân theo lý thuyết của Frank Ellis (1988); việc làm bền vững theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); cùng các khái niệm việc làm thuần nông, việc làm phi nông nghiệp và chuyển đổi nghề nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm số liệu thống kê thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Đoan Hùng giai đoạn 2013 - 2018, các báo cáo chuyên đề của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đoan Hùng, cùng các văn bản chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Để thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 180 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp tại hai dự án trọng điểm: Dự án đường cầu Kim Xuyên nối Quốc lộ 2 đi đường Hồ Chí Minh và Dự án xây dựng khu dân cư mới phía Tây Nam thị trấn Đoan Hùng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đại diện đầy đủ cho ba nhóm đối tượng: hộ bị thu hồi toàn bộ đất sản xuất, hộ bị thu hồi một phần đất và hộ còn nguyên đất canh tác.
Phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm so sánh chi tiết tương quan biến động thu nhập, cơ cấu ngành nghề trước và sau thu hồi đất, đồng thời kiểm định mức độ tương thích giữa chương trình đào tạo nghề với nhu cầu thực tế của thị trường lao động địa phương trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2018.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng tại huyện Đoan Hùng giai đoạn 2013 - 2018 mang lại những phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, tốc độ thu hồi đất nông nghiệp diễn ra nhanh chóng tại các vùng quy hoạch hạ tầng và đô thị, làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu sử dụng đất nhưng chuyển dịch việc làm lại chưa tương xứng. Tỷ lệ lao động sau thu hồi đất tìm được việc làm chính thức tại các doanh nghiệp và khu công nghiệp trên địa bàn huyện chỉ đạt khoảng 35% đến 40%. Trên 45% người lao động phải chuyển sang làm các công việc tự do, lao động thời vụ không ổn định như thợ xây, bốc vác hoặc buôn bán nhỏ lẻ.
Thứ hai, việc triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg và Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề đã hỗ trợ đào tạo cho hàng nghìn học viên. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có việc làm ổn định đúng chuyên môn sau đào tạo chỉ dao động từ 60% đến 68%, chưa đạt mục tiêu kỳ vọng 80%.
Thứ ba, sự phân hóa về khả năng thích ứng nghề nghiệp diễn ra gay gắt theo độ tuổi và giới tính. Nhóm lao động trên 45 tuổi và lao động nữ chiếm tới hơn 60% số người gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới. Thu nhập bình quân của các hộ bị thu hồi trên 50% diện tích đất canh tác bị sụt giảm từ 15% đến 25% trong hai năm đầu sau khi nhận tiền bồi thường.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn Đoan Hùng còn hạn chế, tạo rào cản lớn khi tiếp cận thị trường lao động công nghiệp. Đa số người dân có thói quen sản xuất tự cấp tự túc, thiếu tác phong công nghiệp và thiếu thông tin thị trường lao động. Thêm vào đó, việc sử dụng tiền bồi thường đất chủ yếu tập trung vào xây dựng nhà cửa và mua sắm tiêu dùng, tỷ lệ vốn tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh chỉ chiếm khoảng 10% đến 15%.
Trong báo cáo nghiên cứu, các dữ liệu này có thể được trình bày sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu việc làm của ba nhóm hộ và bảng thống kê đối chiếu mức thu nhập trước - sau giải phóng mặt bằng. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm tại Hải Dương và luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nhường tại Bắc Ninh, khẳng định tình trạng hụt hẫng sinh kế là thách thức phổ biến ở các vùng đô thị hóa.
Kinh nghiệm quốc tế tại Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2005 cho thấy khi 7,3 triệu ha đất bị thu hồi, việc bắt buộc doanh nghiệp ký hợp đồng lao động trên 3 năm và trả lương không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu đã giúp giải quyết việc làm hiệu quả. Đây là bài học thực tiễn quý giá cho huyện Đoan Hùng trong việc nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư dự án.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết triệt để bài toán việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Đoan Hùng, hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ bồi thường và giao đất dịch vụ thương mại. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Ủy ban nhân dân huyện Đoan Hùng cần xây dựng cơ chế giao đất dịch vụ hoặc mặt bằng sản xuất phi nông nghiệp cho 100% hộ dân bị thu hồi từ 30% diện tích đất canh tác trở lên, triển khai hoàn thành trong giai đoạn 2020 - 2022 để tạo sinh kế lâu dài.
Thứ hai, đổi mới chương trình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đoan Hùng chủ trì phối hợp với các trung tâm dạy nghề khảo sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, thực hiện đào tạo có địa chỉ nhằm nâng tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề đạt tối thiểu 80% vào năm 2025, tập trung vào các nghề chế biến nông sản, cơ khí và may công nghiệp.
Thứ ba, quy định trách nhiệm tiếp nhận lao động đối với doanh nghiệp sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Đoan Hùng cần đưa tiêu chí cam kết tuyển dụng lao động địa phương vào hồ sơ chấp thuận dự án, yêu cầu các chủ đầu tư tiếp nhận từ 30% đến 40% lao động thuộc diện bị thu hồi đất và bảo đảm ký hợp đồng dài hạn từ 3 năm trở lên.
Thứ tư, mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi tự tạo việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Đoan Hùng nâng mức cho vay ưu đãi từ 50 triệu lên 100 triệu đồng/hộ, ưu tiên hỗ trợ các hộ vay vốn phát triển kinh tế trang trại đồi rừng, mở rộng dịch vụ thương mại hoặc tham gia xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài trong giai đoạn 2020 - 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Cán bộ quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, cán bộ các phòng ban Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đoan Hùng có thể sử dụng luận văn làm cẩm nang thực tiễn trong quy hoạch sử dụng đất, lập phương án bồi thường và xây dựng chính sách an sinh xã hội bền vững.
Doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án: Các đơn vị tiếp nhận đất thu hồi tại Phú Thọ có thêm cơ sở dữ liệu để thấu hiểu đặc điểm nguồn nhân lực nông thôn, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nội bộ, phương án tuyển dụng và tạo sự đồng thuận cao từ cộng đồng dân cư trong công tác giải phóng mặt bằng.
Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Đề tài là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho những ai đang thực hiện công trình nghiên cứu về kinh tế phát triển, chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp và phương pháp xử lý dữ liệu điều tra xã hội học cấp huyện.
Tổ chức đoàn thể và các hộ nông dân: Hội Nông dân, các hợp tác xã và người dân vùng quy hoạch có thể tìm thấy những định hướng nghề nghiệp, cách thức tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi và mô hình tự tạo việc làm hiệu quả sau khi bàn giao đất sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
Thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đoan Hùng tác động tiêu cực nhất đến nhóm lao động nào? Nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là phụ nữ và người lao động trên 45 tuổi. Do hạn chế về trình độ học vấn, sức khỏe và khả năng học nghề mới, nhóm này khó tuyển dụng vào các nhà máy công nghiệp, khiến thu nhập gia đình sụt giảm từ 15% đến 25% trong thời gian đầu sau thu hồi đất.
Hiệu quả của các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa bàn đạt mức nào? Trong giai đoạn 2012 - 2017, các chương trình mục tiêu quốc gia và Đề án 1956 đã đào tạo nghề cho hàng nghìn lao động. Tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo đạt từ 60% đến 68%, chủ yếu trong các ngành may mặc và cơ khí, nhưng vẫn cần cải tiến để đạt mục tiêu 80%.
Chính quyền địa phương cần làm gì để buộc doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi giải quyết việc làm cho người dân? Huyện Đoan Hùng cần áp dụng quy định bắt buộc chủ đầu tư ký cam kết tiếp nhận 30% đến 40% lao động địa phương có đất bị thu hồi vào làm việc, kèm theo hợp đồng lao động dài hạn từ 3 năm trở lên và mức lương bảo đảm đời sống.
Tại sao mô hình kinh tế nhị nguyên của Lewis được ứng dụng trong nghiên cứu này? Mô hình Lewis cung cấp cơ sở lý luận vững chắc về quá trình chuyển dịch lao động dư thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp. Mô hình giúp luận giải cơ chế thu hút việc làm tại các dự án hạ tầng và khu dân cư mới ở huyện Đoan Hùng.
Nông dân bị mất đất có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ đâu để tự tạo việc làm? Người dân có thể tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đoan Hùng với hạn mức từ 50 triệu đến 100 triệu đồng/hộ, phục vụ cho các mô hình chăn nuôi, trồng trọt thâm canh hoặc mở cửa hàng dịch vụ thương mại.
Kết luận
Luận văn đã giải quyết trọn vẹn những mục tiêu nghiên cứu trọng tâm thông qua các kết quả cốt lõi:
- Khẳng định tính cấp thiết của công tác tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Đoan Hùng giai đoạn 2013 - 2018 dưới góc nhìn kinh tế học phát triển.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các mô hình kinh tế nhị nguyên của Lewis, Harris - Todaro và lý thuyết nông hộ để làm sáng tỏ bản chất của việc làm nông thôn.
- Đánh giá chân thực bức tranh việc làm tại địa phương: tỷ lệ lao động vào làm việc tại doanh nghiệp đạt 35% - 40%, lao động tự do chiếm trên 45% và tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt 60% - 68%.
- Đề xuất khung giải pháp liên kết chặt chẽ giữa 3 chủ thể: Nhà nước ban hành chính sách đất dịch vụ, Doanh nghiệp cam kết tuyển dụng 30% - 40% lao động bản địa, và Người nông dân chủ động học nghề.
- Định hình kế hoạch hành động giai đoạn 2020 - 2025 với mục tiêu đưa tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 80% và mở rộng hạn mức vay vốn ưu đãi lên 100 triệu đồng.
Công trình đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, kêu gọi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền và doanh nghiệp nhằm hiện thực hóa mục tiêu an sinh xã hội bền vững cho người nông dân huyện Đoan Hùng.