Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 70% dân số và hơn 50% lực lượng lao động xã hội, giữ vị trí then chốt trong quá trình phát triển kinh tế bền vững. Tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên – một huyện miền núi được thành lập theo Nghị định 135/2006/NĐ-CP của Chính phủ, dân số nông thôn năm 2019 chiếm tới 81% (khoảng 35.000 người trên tổng số 43.006 người). Lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 25.200 người (chiếm 56,9% dân số), nhưng có đến 83% đang tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp với phương thức canh tác truyền thống. Năng suất lao động thấp, tính chất mùa vụ khiến thời gian nông nhàn kéo dài từ 2 đến 4 tháng mỗi năm, trong khi tỷ lệ hộ nghèo từng ở mức cao 53,69%.

Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Mường Ảng giai đoạn 2016 - 2019, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi cho giai đoạn 2020 - 2025. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ mạng lưới đào tạo nghề trên địa bàn huyện Mường Ảng, trực tiếp là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ nét qua các chỉ số chuyển biến thực tế: trong giai đoạn nghiên cứu, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành 42 văn bản chỉ đạo, mở 38 lớp đào tạo nghề cho 1.230 học viên, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện từ 34,40% năm 2016 lên 38,90% năm 2019 (tương đương 10.108 người), góp phần duy trì tốc độ giảm nghèo bình quân 6,3% mỗi năm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương đạt trên 7,55%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và Mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa. Lý thuyết vốn con người chỉ ra rằng đầu tư vào giáo dục, đào tạo kỹ năng chuyên môn và thể lực cho người lao động sẽ trực tiếp nâng cao năng suất biên của lao động, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và cải thiện thu nhập bền vững. Trong khi đó, mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động giải thích xu hướng tất yếu của việc dịch chuyển nguồn nhân lực từ khu vực nông nghiệp có năng suất thấp sang khu vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có năng suất cao hơn.

Luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Lao động nông thôn: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn, tham gia vào các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
  • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Quá trình giảng dạy có tổ chức nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp, giúp người học tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm mới theo Luật Giáo dục nghề nghiệp.
  • Đào tạo nghề ngắn hạn và sơ cấp: Các khóa học từ dưới 3 tháng đến dưới 1 năm, tập trung vào kỹ năng thực hành ứng dụng tại chỗ.
  • Quy trình tổ chức đào tạo nghề: Thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 4 bước: Khảo sát nhu cầu, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch - phương thức và triển khai kiểm tra, đánh giá kết quả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016 - 2019:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê huyện Mường Ảng, các báo cáo chuyên đề của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp 2 nhóm đối tượng trên địa bàn huyện. Cỡ mẫu học viên được xác định theo công thức Slovin với sai số cho phép e = 5% trên tổng thể khoảng 300 học viên đang theo học, thu về 172 phiếu hợp lệ. Đối với đội ngũ quản lý và giảng dạy, tác giả tiến hành điều tra toàn bộ 17 cán bộ, giáo viên tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Mường Ảng.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả (tính số bình quân, tỷ lệ phần trăm, phân tổ theo trình độ, giới tính, dân tộc), phương pháp so sánh đối chiếu đa chiều giữa các năm và thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý với khoảng cách giá trị là 0,8) để đo lường các nhân tố ảnh hưởng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh định lượng chính xác nhận thức của học viên và đánh giá khách quan năng lực tổ chức đào tạo của cơ sở dạy nghề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và tỷ lệ đào tạo nghề tăng trưởng ổn định qua các năm. Số lượng lao động qua đào tạo nghề của huyện Mường Ảng tăng liên tục từ 23,26% năm 2016 lên 24,62% năm 2017; 26,07% năm 2018 và đạt 27,20% vào năm 2019. Tổng số lao động nông thôn qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đến năm 2019 đạt 10.108 người.

Thứ hai, cơ cấu lao động qua đào tạo có sự chuyển dịch tích cực phù hợp với định hướng phát triển kinh tế. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động được đào tạo giảm từ 61,34% (năm 2017) xuống 58,93% (năm 2018) và còn 57,13% (năm 2019). Ngược lại, nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng từ 20,78% lên 22,75%; nhóm thương mại và dịch vụ tăng từ 17,88% lên 20,12% trong cùng giai đoạn.

Thứ ba, hiệu quả ứng dụng sau đào tạo đạt tỷ lệ khả quan. Giai đoạn 2015 - 2019, toàn huyện có hơn 3.000 lao động nông thôn qua đào tạo nghề, trong đó 75% học viên có việc làm hoặc tự tạo việc làm ổn định và 27% số hộ gia đình thoát nghèo nhờ áp dụng kiến thức đã học. Điển hình như tại xã Ẳng Nưa, 100% học viên qua 10 lớp đào tạo nghề nông nghiệp đều có việc làm với thu nhập bình quân 3 - 4 triệu đồng/tháng. Tại bản Co Sáng (xã Ẳng Cang), lớp kỹ thuật trồng rau an toàn cho 35 học viên đã hình thành vùng chuyên canh cung cấp rau sạch chủ lực cho chợ trung tâm huyện.

Thứ tư, khảo sát mẫu 172 học viên cho thấy đối tượng người học mang đặc thù rõ nét: 75% là đồng bào dân tộc Thái; 66,04% có trình độ học vấn trung học phổ thông; 33,75% là lao động chưa có kinh nghiệm làm việc trước đó và rất cần được hướng dẫn thực hành trực tiếp.

Thảo luận kết quả

Thành công của công tác đào tạo nghề tại Mường Ảng xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương và việc gắn kết chặt chẽ giữa nội dung đào tạo với thế mạnh bản địa, đặc biệt là vùng chuyên canh cà phê quy mô hơn 3.000 ha. Phương thức dạy nghề lưu động tại thôn bản kết hợp xây dựng mô hình trình diễn đã giải quyết tốt rào cản địa lý và tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự tương quan rõ nét khi được biểu diễn trên biểu đồ cột về đà tăng trưởng lao động qua đào tạo (từ 34,40% lên 38,90%) và biểu đồ tròn về cơ cấu ngành nghề đào tạo (57,13% nông nghiệp, 22,75% công nghiệp - xây dựng, 20,12% dịch vụ). Tuy nhiên, khi so sánh với bài học thực tiễn tại thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) nơi tỷ lệ có việc làm đạt trên 90% và thu nhập bình quân từ 5,5 đến 7,5 triệu đồng/tháng, hay thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) với danh mục 23 nghề đa dạng, Mường Ảng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn.

Hạn chế lớn nhất là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện chưa có trụ sở làm việc riêng biệt, thiếu phòng thực hành chuyên dụng. Đội ngũ giáo viên cơ hữu ngành chăn nuôi và trồng trọt còn mỏng, nguồn kinh phí hỗ trợ mua con giống, vật tư thực hành còn thấp. Ngoài ra, mối liên kết đầu ra với doanh nghiệp và chính sách cho vay vốn sau học nghề chưa đáp ứng kịp nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Mường Ảng giai đoạn 2020 - 2025, bốn nhóm giải pháp trọng tâm được xác định:

  1. Đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo: Điều chỉnh kết cấu chương trình dạy nghề theo hướng thực hành chiếm 70% đến 80% tổng thời lượng. Áp dụng phương pháp "cầm tay chỉ việc", trực quan hóa tài liệu giảng dạy phù hợp với 75% học viên là đồng bào dân tộc Thái. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Mường Ảng; Thời gian thực hiện: 2020 - 2022; Chỉ tiêu: 100% học viên tốt nghiệp làm chủ được quy trình kỹ thuật.

  2. Nâng cấp cơ sở vật chất và kiện toàn đội ngũ giáo viên: Đầu tư xây dựng trụ sở độc lập cho Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện, trang bị đầy đủ xưởng thực hành cơ khí, điện dân dụng và vườn ươm nông nghiệp công nghệ cao. Tuyển dụng và bồi dưỡng chuẩn hóa thêm 5 đến 7 giáo viên cơ hữu chuyên ngành nông nghiệp và chế biến. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Mường Ảng phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên; Thời gian thực hiện: 2021 - 2023; Chỉ tiêu: 100% giáo viên đạt chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

  3. Xây dựng mô hình liên kết đào tạo theo chuỗi giá trị: Ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng với các hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và chế biến cà phê trên địa bàn hơn 3.000 ha cà phê của huyện. Gắn đào tạo nghề với quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, chăn nuôi gia súc tập trung. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Phòng Kinh tế - Hạ tầng và các doanh nghiệp; Thời gian thực hiện: 2021 - 2025; Chỉ tiêu: Đạt tỷ lệ trên 85% lao động có việc làm ổn định sau đào tạo.

  4. Mở rộng chính sách tín dụng và hỗ trợ khởi nghiệp: Tăng cường nguồn vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội huyện, giải ngân kịp thời cho 100% hộ gia đình sau học nghề có phương án sản xuất khả thi với mức vay ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ. Chủ thể thực hiện: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mường Ảng cùng các đoàn thể chính trị - xã hội; Thời gian thực hiện: 2020 - 2025; Chỉ tiêu: Giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 5% trở lên mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân huyện Mường Ảng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, phân bổ ngân sách và điều chỉnh chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2021 - 2025.
  • Lãnh đạo và giáo viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám đốc và giảng viên tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực miền núi Tây Bắc tham khảo phương pháp biên soạn giáo trình, tổ chức lớp dạy nghề lưu động và gắn kết mô hình trình diễn nông nghiệp.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các cá nhân nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển khai thác mô hình khảo sát thực chứng, quy trình chọn mẫu Slovin và phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại tại địa phương: Khối kinh tế tư nhân tham khảo để phối hợp đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, nâng cao hiệu quả chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản chủ lực như cà phê, cây ăn quả và rau sạch.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Mường Ảng lại ưu tiên nhóm ngành nông nghiệp? Vì 81% dân số sống ở nông thôn và 83% lực lượng lao động huyện Mường Ảng đang làm nông nghiệp. Địa phương có thế mạnh vùng chuyên canh hơn 3.000 ha cà phê và đất bãi màu ven sông suối. Đào tạo thâm canh cây cà phê và trồng rau an toàn (như lớp 35 học viên bản Co Sáng) giúp nâng cao năng suất trực tiếp, tạo sinh kế bền vững nhất cho người dân.

  2. Phương pháp chọn mẫu điều tra trong luận văn được tiến hành như thế nào để đảm bảo tính khách quan? Tác giả áp dụng công thức Slovin với mức sai số 5% trên tổng thể khoảng 300 học viên tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện để chọn ra cỡ mẫu chuẩn 172 học viên. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện 100% đội ngũ gồm 17 cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề trên địa bàn huyện.

  3. Hiệu quả kinh tế của người lao động nông thôn tại Mường Ảng sau khi học nghề ra sao? Theo số liệu thống kê giai đoạn 2015 - 2019, 75% học viên có việc làm ổn định và 27% số hộ thoát nghèo sau đào tạo. Điển hình tại xã Ẳng Nưa, 100% học viên tham gia các lớp kỹ thuật chăn nuôi gà đồi, trồng cà phê đã tự tạo việc làm với mức thu nhập bình quân từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng.

  4. Khó khăn lớn nhất trong công tác đào tạo nghề tại huyện Mường Ảng hiện nay là gì? Những rào cản chính gồm: cơ sở vật chất của Trung tâm dạy nghề còn thiếu thốn, chưa có trụ sở làm việc riêng biệt; thiếu giáo viên cơ hữu chuyên ngành nông nghiệp; kinh phí mua con giống, vật tư thực hành hạn chế; và 33,75% học viên chưa có kinh nghiệm làm việc, đòi hỏi phải kiên trì hướng dẫn theo hình thức cầm tay chỉ việc.

  5. Luận văn có thể ứng dụng cho các huyện miền núi khác có điều kiện tương đồng không? Hoàn toàn có thể ứng dụng. Mô hình tổ chức đào tạo nghề lưu động kết hợp điểm trình diễn thực tế và liên kết vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa là bài học kinh nghiệm giá trị cho các địa phương vùng cao tại Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số cao.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc lý luận về vốn con người và quy trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng cao theo Quyết định 1956/QĐ-TTg.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề huyện Mường Ảng giai đoạn 2016 - 2019 với tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 38,90% và đào tạo nghề đạt 27,20%.
  • Xác nhận hiệu quả thực tiễn với 75% học viên có việc làm sau học nghề, đóng góp trực tiếp vào mức giảm nghèo 6,3% mỗi năm của địa phương.
  • Nhận diện chính xác các nút thắt về cơ sở vật chất, giáo viên cơ hữu và nguồn kinh phí hỗ trợ thực hành tại cơ sở đào tạo nghề.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề gắn với phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện và luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác quản lý kinh tế tại huyện Mường Ảng. Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt ngay trong giai đoạn 2020 - 2025, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, thúc đẩy huyện Mường Ảng phát triển bền vững.