Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn được quan tâm. Bởi lẽ, đây không chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người lao động, mà còn liên quan đến tất cả các quá trình phát triển xã hội. Đây là một vấn đề có liên hệ, liên kết giữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu. Quá trình đó diễn ra trong mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong đó có liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật pháp.
Đây là vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Nhưng vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết việc làm cho người lao động cũng có những đặc điểm khác nhau. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc làm cho người lao động được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước quan tâm. Trong phạm vi của luận án, chương tổng quan tình hình nghiên cứu chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến việc làm cho người lao động, trong đó có lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.1 Tài liệu chuyên khảo và tham khảo nước ngoài 1.1 Sách tham khảo và bài báo khoa học * Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học người Đức có công trình vĩ đại “Tư bản” được phát hành vào năm 1867 [5]. Sự xuất hiện của công trình này đã đưa ông trở thành nhà khoa học kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XIX. Trong tác phẩm nổi tiếng này, Ông đã đưa ra lý thuyết giá trị thặng dư và phân tích bản chất và những thành tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động - một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Trong quá trình nghiên cứu, Các Mác đã phát hiện ra rằng, cái giá trị tăng thêm mà các ông chủ tư bản có được sau khi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động không 13 công của người công nhân làm thuê tạo ra.
Song để có những giá trị thặng dư ấy, nhà tư bản phải tạo ra một chỗ làm việc cụ thể trong chuỗi kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ bằng cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh. Và hơn nữa, người lao động nếu không thể kết hợp sức lao động sống của mình với chỗ làm việc cụ thể do nhà tư bản tạo ra, thì bản thân họ cũng không thể chuyển sức lao động thành việc làm, và do đó cũng không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Vấn đề việc làm được ông nghiên cứu chi tiết ở chương XXIII, tập 23 C.Mác - Ăngghen toàn tập về “Quy luật phổ biến của tích luỹ tư bản chủ nghĩa” [4], trong đó ông phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí của giai cấp công nhân và việc làm. Luận cứ quan trọng nhất của công trình này là sự biến đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản trong quá trình tích luỹ.Mác cho rằng, cùng với những điều kiện khác không thay đổi, kết cấu của tư bản cũng vẫn không thay đổi - nghĩa là để vận dụng một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất định, bao giờ cũng cần một khối lượng sức lao động như trước.
Rõ ràng là lượng cầu về sức lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỷ lệ với tư bản, và tư bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh bấy nhiêu. Theo ông, đầu tư tăng (tăng tư bản) sẽ làm gia tăng cầu sức lao động, do đó, khả năng có việc làm của người lao động sẽ được gia tăng. Tuy nhiên, với mục đích có được càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, việc gia tăng tư bản của nhà tư bản luôn được tính toán làm sao tốc độ gia tăng tư bản bất biến nhanh hơn tốc độ gia tăng tư bản khả biến. Đầu tư cải tiến kỹ thuật công nghệ là biện pháp tốt nhất để tăng năng suất lao động, gia tăng sản xuất giá trị thặng dư.
Do đó, sự gia tăng việc làm trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư bản, mà có xu hướng giảm tương đối. Như vậy, xét trên tổng thể, tư bản khả biến và cầu sức lao động giảm tương đối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn của nền sản xuất xã hội. Từ đó Mác đưa ra nhận định về nạn nhân khẩu thừa tương đối trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định, sự tăng lên của bộ phận tư bản khả biến bao giờ cũng gắn liền với những biến động mạnh mẽ của việc sản xuất 14 ra số nhân khẩu thừa tạm thời.
Và cùng với sự tích luỹ tư bản do bản thân nó đẻ ra, nhân khẩu công nhân cũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những phương tiện làm cho họ trở thành nhân khẩu thừa tương đối. Dân cư dôi dư này có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo lao động thường xuyên cần thiết cho xã hội và cũng là đòn bẩy quan trọng cho việc đẩy mạnh sản xuất giá trị thặng dư [dẫn theo 24]. Những nghiên cứu của C.Mác về hàng hoá sức lao động, về sự sản xuất ra giá trị thặng dư, về ngày lao động, sự phân công lao động, sự thay đổi trong đại lượng giá cả sức lao động và của giá trị thặng dư, sự chuyển hoá giá trị sức lao động hay giá cả sức lao động thành tiền công, quá trình tích luỹ tư bản, nhất là lý luận của ông về tích luỹ tư bản. được chuyển tải trong tập 23 đã cung cấp những cơ sở khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho các nhà kinh tế Mác-xít, các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới cũng như các vấn đề phát sinh trong xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc gia [14].
Đồng thời, đây cũng là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới cũng như giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nông nghiệp. * John Maynard Keynes trong cuốn Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ [32] đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm. Vị trí trung tâm trong lý thuyết của ông là việc làm.Keynes cho rằng, tình trạng việc làm được xác định trong mối quan hệ giữa tác động các yếu tố thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp, tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập, ông khẳng định: khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập tăng lên. Cùng với sự tăng lên của thu nhập, ông cho rằng, khi thu nhập tăng thì tiêu dùng cũng tăng lên, nhưng do tâm lý của quần chúng, tốc độ tăng tiêu dùng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán được.
Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng đến 15 sản xuất chu kỳ sau, do đó làm giảm việc làm, gia tăng thất nghiệp. Muốn khắc phục tình trạng đó, cần phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thích quần chúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ. Do vậy, theo ông, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng tổng cầu nền kinh tế, gồm cả cầu tiêu dùng và cầu đầu tư. Ông chỉ ra rằng, việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm.
Có như vậy mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng tổng cầu thông qua các khoản chi tiêu chính phủ, hoặc thông qua các chính sách đầu tư. Ông phê phán lý thuyết thất nghiệp của A.Pigou và cho rằng, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không tồn tại cơ chế nào có thể đảm bảo được việc làm đầy đủ, nguyên nhân của thất nghiệp và lạm phát không phải du nhập từ bên ngoài, mà chính ở trong hệ thống kinh tế đó, chứ không thể và cũng không phải là một hệ thống tự điều tiết. Như vậy, theo J.Keynes, để tạo việc làm, hạn chế thất nghiệp, cần gia tăng cầu tiêu dùng và đầu tư.
Tăng cầu tiêu dùng và đầu tư nhằm kích thích lượng tiền cất trữ đưa vào lưu thông, từ đó sẽ giúp mở rộng quy mô nền kinh tế, làm tăng thu nhập. Và đến lượt nó, thu nhập tăng sẽ làm gia tăng đầu tư, tăng việc làm và tăng tiêu dùng [30]. * Nolwen Heraff - Jean Yves Martin trong cuốn Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới [29] đã nghiên cứu khái quát về tình hình lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1986-2000. Theo đó cho thấy, bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Việt Nam có một ưu thế lớn là có nguồn nhân lực dồi dào, khả năng mở rộng việc làm trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường rất lớn, song do chất lượng nguồn nhân lực thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạo nghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển rất hạn chế.
Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của nguồn nhân lực và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta giai đoạn 1986-2000. Những kết quả nghiên cứu 16 của công trình này, cũng như nghiên cứu của Slandes [49] đã cung cấp cho người đọc có một cái nhìn tương đối khách quan, khoa học về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là những tư liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.