Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nguồn lao động và sử dụng lao động - Chương 2: Thực trạng nguồn lao động và sử dụng lao động ở TP Thanh Hóa - Chương 3: Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn lao động và sử dụng lao động ở thành phố Thanh Hóa đến n m 2030. 6 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. ổ qu vấ ề ê cứu NLĐ và SDLĐ, với vai trò quan trọng nhiều mặt, là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động, Kinh tế nguồn nhân lực, Kinh tế chính trị, Địa l kinh tế. Những vấn đề về NLĐ và SDLĐ đã trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước.
Trên thế giới Những vấn đề về nguồn lao động đã được đề cập đến trong các học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh từ thế k XVII, XVIII. William Petty là người đầu tiên đưa ra nguyên l về giá trị lao động và khẳng định “lao động là cha của của cải và đất đai là mẹ của của cải”. Học thuyết kinh tế của Adam Smith cũng đưa ra những l luận về giá trị - lao động. Theo ông, lao động là thước đo giá trị, là thực thể giá trị của hàng hoá, là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia (dẫn theo [58]).
Đặc biệt, những l luận về phân công lao động của ông cũng có thể xem như đã đề cập đến vấn đề sử dụng hiệu quả lao động khi cho rằng phân công lao động sẽ làm t ng thêm hiệu suất lao động, t ng n ng suất lao động. Tiếp theo đó, David Ricardo, người có đóng góp to lớn cho học thuyết giá trị lao động, đã cho rằng, lao động là một trong ba yếu tố cơ bản và quan trọng cho t ng trưởng kinh tế. Đến học thuyết kinh tế chính trị của Marx – Engels ra dời vào những n m 40 của thế k XIX, lao động đã trở thành một nội dung quan trọng được nghiên cứu với hàng loạt các phạm tr liên quan như: lực lượng sản xuất, hàng hoá sức lao động, sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, n ng suất lao động…, trong đó, sức lao động (tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động) là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Có thể nói, dựa trên quan điểm lịch sử, Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động.
Học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes (1935) lại dành riêng một mảng luận giải những l thuyết chung về một vấn đề rất quan trọng trong SDLĐ, đó là việc làm [58]. L thuyết của Keynes ch ra rằng, để tạo thêm việc làm, toàn dụng lao động, cần phải t ng tổng cầu nền kinh tế thông qua đầu tư với sự điều tiết bởi “bàn tay hữu hình” của Nhà nước. 7 Trong kinh tế học hiện đại, việc SDLĐ còn được đề cập thông qua l thuyết tạo việc làm của nhiều nhà kinh tế khác. Arthur Lewis – nhà kinh tế học gốc Jamaica, được giải Nobel n m 1979, đưa ra l thuyết tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế: từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại, góp phần nâng cao n ng suất, tạo việc làm lao động dôi dư trong nông nghiệp; đồng thời làm t ng lợi nhuận trong công nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ t ng trưởng và phát triển kinh tế (dẫn theo [57]).
Trong khi đó, cuối những n m 30 của thế k XX, nhà kinh tế Nhật Bản Harry T.Oshima lại hướng đến việc tạo việc làm đầy đủ cho lao động nông nghiệp m a nông nhàn, sử dụng lao động nông nghiệp nhàn r i vào các ngành sản xuất công nghiệp cần nhiều lao động khi nghiên cứu trường hợp các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á (dẫn theo [57]). Như vậy, NLĐ và SDLĐ là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức nghiên cứu. Trong số đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hiện đang là một trong những cơ quan phối hợp với Chính phủ các quốc gia, với các tổ chức khác và với các nhà khoa học nghiên cứu khá nhiều vấn đề liên quan đến NLĐ, sử dụng lao động – việc làm cả về lí thuyết và thực tiễn [49], [50], [51]. Tất cả những nghiên cứu trên đều là nguồn tài liệu tham khảo rất quan trọng và có giá trị cao về mặt lí luận, là cơ sở cho tác giả vận dụng vào nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế của TP Thanh Hóa hiện nay, thì khi vận dụng những lí luận và kinh nghiệm này, cần phải lựa chọn các ch tiêu cho ph hợp với thực tiễn địa phương. Các nghiên cứu ở Việt Nam a) Nghiên cứu về nguồn lao động Ở Việt Nam, những nghiên cứu về NLĐ rất phong phú, đa dạng. Những nghiên cứu này thường không ch đơn giản là phân tích, đánh giá NLĐ theo những tiêu chí về số lượng, chất lượng mà còn gắn với những khía cạnh cụ thể. * Nguồn lao động và vấn đề việc làm Đặc biệt có nghĩa là các cuộc “Điều tra lao động và việc làm Việt Nam” do Bộ LĐTB&XH thực hiện từ n m 1996 cho đến 2007, được tiến hành hàng n m nhằm đo lường các xu hướng có liên quan đến dân số trong và ngoài LLLĐ, cung cấp những thông tin cơ bản về thị trường lao động (số lượng, mức độ tham gia vào thị trường lao động, nhóm tuổi, trình độ CMKT, việc làm, thất nghiệp…), cũng như giám sát sự phát triển của thị trường lao động nước ta.
Từ 2008, điều tra lao động việc làm do Tổng cục Thống kê tiến hành. Đây có thể xem là nguồn dữ liệu đầu vào chính thống và quan trọng cho những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề lao động và việc làm của Việt Nam. Từ chu i dữ liệu điều tra lao động - việc làm trên, Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐTB&XH) cũng có những nghiên cứu, dự báo về xu hướng lao động, 8 việc làm, phân tích xu thế và tốc độ biến động của các yếu tố chính của thị trường lao động và xã hội trong những giai đoạn cụ thể, đồng thời lượng hóa tác động của các yếu tố kinh tế đến cầu lao động và dự báo xu hướng việc làm Việt Nam cho những giai đoạn tiếp theo [47]. Những đánh giá, phân tích và dự báo này là bằng chứng khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản l , nhà nghiên cứu có thể sử dụng trong việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách về lao động, việc làm và phát triển kinh tế.
Đặc biệt, từ n m 2010, báo cáo thường niên Xu hướng Lao động và Xã hội Việt Nam [48] đã được thực hiện hàng n m nhằm mục đích phân tích, đánh giá những biến động của thị trường lao động, xã hội qua từng n m và qua các giai đoạn, đồng thời dự báo xu hướng cho giai đoạn tiếp theo. * Nguồn lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động Nghiên cứu về NLĐ không thể thiếu những vấn đề về chuyển dịch cơ cấu lao động. C ng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động cũng có vai trò rất quan trọng đối với nước ta. N m 2006, sau hai thập niên đổi mới, tác giả Phạm Đức Thành [31] đã tổng kết một chặng đường với những thay đổi cơ cấu lao động của đất nước, trong đó nhấn mạnh phân tích các vấn đề còn tồn tại.
C ng thời điểm này, tác giả Phạm Qu Thọ [32] đã nghiên cứu nhằm đúc rút kinh nghiệm của một số nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nước ta trong xu thế hội nhập quốc tế, từ đó đưa ra các giải pháp cho vấn đề này. Theo v ng, hoặc theo từng lãnh thổ cụ thể, cũng có những nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu lao động dưới tác động của nhiều nhân tố khác nhau như của các tác giả Hoàng V n Chức [6], Trần Thị Bích Hạnh [14]. * NLĐ và vấn đề hội nhập Trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, lao động Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội việc làm c ng không ít thách thức. Đề cập đến khía cạnh này, cũng đã có nhiều nghiên cứu, phân tích.
Các tác giả Lê Quốc L , Lê V n Cương [21], Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên) [18] đã nghiên cứu về hội nhập kinh tế, phân tích thực trạng lao động - xã hội cũng như những cơ hội và thách thức đối với LĐ và việc làm Việt Nam trong điều kiện hội nhập, dự báo tác động của t ng trưởng kinh tế và hội nhập đến lao động, việc làm giai đoạn 2010 - 2020 và đưa ra một số giải pháp để lao động Việt Nam có thể hội nhập tốt hơn vào thị trường lao động thế giới. Bên cạnh những nghiên cứu về NLĐ theo những khía cạnh nhất định, bức tranh về lao động Việt Nam nói chung là mảng không thể thiếu trong nhiều báo cáo đánh giá, tổng kết tình hình kinh tế Việt Nam. Đáng chú có các công trình như ấn bản thường niên Kinh tế Việt Nam và thế giới của Hội Kinh tế Việt Nam [34] hay 9 chu i Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội [17]… b) Nghiên cứu về sử dụng lao động Thực chất, những nghiên cứu về các vấn đề gắn với NLĐ như việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động hay lao động với xu thế hội nhập… đã đề cập ở trên đều là nghiên cứu những khía cạnh riêng lẻ của việc SDLĐ. Nhưng vấn đề SDLĐ không ch đơn giản là như vậy.
Nói tới SDLĐ, không thể không xem xét việc sử dụng có hiệu quả NLĐ. Có nhiều ch tiêu để đánh giá hiệu quả SDLĐ.