Luận án: Ảnh hưởng stress đến hành vi đổi mới ở giáo viên - Phạm Hương Quỳnh, ĐH KTQD

Nghiên cứu phân tích chi tiết ảnh hưởng của các tác nhân gây căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên phổ thông thông qua phản ứng căng

Chuyên ngành

Kinh tế lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

236
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tác nhân gây căng thẳng và hành vi đổi mới ở giáo viên phổ thông

Giáo viên phổ thông là lực lượng lao động đặc biệt, chịu áp lực từ nhiều phía: chương trình đào tạo, quản lý hành chính, mối quan hệ với phụ huynh và học sinh. Theo nghiên cứu của Kyriacou (2015), tỷ lệ giáo viên báo cáo căng thẳng ở mức rất cao dao động từ 20-30%. Van Droogenbroeck và Spruyt (2015) khẳng định giáo viên thuộc nhóm nghề có nguy cơ căng thẳng và rối loạn sức khỏe tâm thần cao nhất. Nguyên nhân chính là nghề giáo đòi hỏi tương tác trực diện liên tục, buộc giáo viên phải kìm nén cảm xúc tiêu cực trong thời gian dài. Tình trạng này tích tụ dẫn đến kiệt sức cảm xúc, suy giảm động lực và khả năng sáng tạo. Tác nhân gây căng thẳng được phân thành hai loại: thể lý (physiological stressors) và tâm lý (psychological stressors). Tác nhân thể lý xuất phát từ điều kiện vật chất như tiếng ồn, nhiệt độ, không gian làm việc. Tác nhân tâm lý liên quan đến áp suất công việc, xung đột vai trò và thiếu sự hỗ trợ từ đồng nghiệp. Cả hai loại tác nhân đều ảnh hưởng trực tiếp đến phản ứng căng thẳng của giáo viên, từ đó tác động đến hành vi đổi mới trong công việc.

1.1. Khái niệm tác nhân gây căng thẳng trong môi trường giáo dục

Tác nhân gây căng thẳng là yếu tố môi trường hoặc tình huống tạo ra phản ứng căng thẳng ở cá nhân. Deckers (2018) mô tả đặc trưng của tác nhân qua bốn chiều: tính kiểm soát (có thể đối phó được hay không), thời gian tác động (ngắn hạn hay mãn tính), cường độ tác động và khả năng xảy ra. Trong môi trường giáo dục phổ thông Việt Nam, các tác nhân phổ biến bao gồm áp lực đổi mới chương trình, tải lượng công việc hành chính lớn, xung đột giữa kỳ vọng của phụ huynh và năng lực thực tế. Các tác nhân này không tồn tại đơn lẻ mà thường tương tác, khuếch đại lẫn nhau, tạo thành chuỗi căng thẳng kéo dài.

1.2. Hành vi đổi mới trong công việc của giáo viên

Hành vi đổi mới trong công việc (Innovative Work Behavior - IWB) là quá trình giáo viên chủ động tìm kiếm, đề xuất và triển khai ý tưởng mới nhằm cải thiện phương pháp giảng dạy, quản lý lớp học hoặc quy trình làm việc. IWB bao gồm ba giai đoạn: tạo ý tưởng, xúc tiến ý tưởng và hiện thực hóa ý tưởng. Ở giáo viên phổ thông, hành vi đổi mới thể hiện qua việc áp dụng công nghệ mới, thiết kế bài học sáng tạo hoặc xây dựng phương pháp đánh giá tiến bộ. Tuy nhiên, khi phản ứng căng thẳng gia tăng, nguồn lực tâm lý cạn kiệt, khả năng đổi mới bị suy giảm đáng kể.

II. Phân tích cơ chế ảnh hưởng của căng thẳng đến hành vi đổi mới

Cơ chế ảnh hưởng của tác nhân gây căng thẳng đến hànhvi đổi mới hoạt động thông qua phản ứng căng thẳng làm trung gian. Khi giáo viên đối mặt với tác nhân gây căng thẳng, cơ thể kích hoạt phản ứng tâm sinh lý bao gồm lo âu, mệt mỏi, mất ngủ và kiệt sức cảm xúc. Theo mô hình công việc - yêu cầu nguồn lực (JD-R), khi yêu cầu công việc vượt quá nguồn lực sẵn có, phản ứng căng thẳng tiêu cực xuất hiện và làm cạn kiệt năng lượng cá nhân. Giáo viên trong trạng thái kiệt sức không còn đủ nguồn lực nhận thức và cảm xúc để tham gia vào quá trình đổi mới. Nghiên cứu của Education (2014) cho thấy 46% giáo viên Hoa Kỳ cảm thấy căng thẳng hàng ngày trong năm học. Tại Việt Nam, giáo viên phổ thông phải đối mặt với áp lực từ đổi mới chương trình giáo dục, áp lực thành tích và thủ tục hành chính phức tạp. Kết quả là phản ứng căng thẳng đóng vai trò kênh truyền dẫn, biến tác nhân gây căng thẳng thành rào cản trực tiếp đối với hành vi đổi mới. Mức độ căng thẳng càng cao, khả năng sáng tạo và chủ động đổi mới của giáo viên càng suy giảm rõ rệt.

2.1. Phản ứng căng thẳng thể lý và tác động đến đổi mới

Phản ứng căng thẳng thể lý bao gồm tăng nhịp tim, đau đầu, rối loạn tiêu hóa và mất ngủ kinh niên. Giáo viên phổ thông phải đứng lớp nhiều giờ, chịu tiếng ồn và áp lực thời gian biểu dày đặc. Theo Kovács và cộng sự (2005), các tác nhân thể lý tác động qua hệ thống thụ cảm trung gian, gây rối loạn cân bằng nội sinh. Khi cơ thể mệt mỏi kéo dài, giáo viên mất khả năng tập trung cao, khó duy trì năng lượng cho các hoạt động đòi hỏi tư duy sáng tạo. Tình trạng kiệt sức thể lý là rào cản vật lý trực tiếp ngăn cản hành vi đổi mới.

2.2. Phản ứng căng thẳng tâm lý và suy giảm đổi mới

Phản ứng căng thẳng tâm lý bao gồm lo âu, trầm cảm, cảm giác bi quan và mất động lực. Giáo viên phải kìm nén cảm xúc tiêu cực trong quá trình tương tác với học sinh, dẫn đến tích tụ căng thẳng theo thời gian. Struyven và cộng sự (2013) chỉ ra rằng sự kìm nén cảm xúc kéo dài khiến giáo viên dễ bị tổn thương cảm xúc hơn. Khi phản ứng căng thẳng tâm lý đạt ngưỡng cao, giáo viên mất niềm tin vào khả năng thay đổi, e ngại rủi ro và thu mình khỏi các hoạt động đổi mới. Đây là cơ chế tâm lý quan trọng giải thích tại sao căng thẳng triệt tiêu động lực đổi mới.

III. Giải pháp quản lý căng thẳng để thúc đẩy đổi mới ở giáo viên

Để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của tác nhân gây căng thẳng đến hành vi đổi mới, cần triển khai các giải pháp đa tầng. Ở cấp độ cá nhân, giáo viên cần được trang bị kỹ năng quản lý căng thẳng như thiền định, quản lý thời gian và kỹ năng điều chỉnh cảm xúc. Ở cấp độ tổ chức, nhà trường cần xây dựng môi trường hỗ trợ, giảm tải thủ tục hành chính và tạo không gian cho giáo viên thử nghiệm sáng tạo. Chương trình đào tạo nâng cao năng lực thích ứng và phục hồi tâm lý (resilience) cần được đưa vào quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên. Ngoài ra, cơ chế phản hồi tích cực từ ban giám hiệu giúp giáo viên cảm thấy được đánh giá đúng, từ đó duy trì động lực đổi mới. Chính sách nghỉ ngơi hợp lý, giảm áp lực thành tích phi thực tế cũng góp phần bảo vệ nguồn lực tâm lý cho giáo viên. Sự kết hợp giữa hỗ trợ cá nhân và cải cách tổ chức là chìa khóa để vừa kiểm soát căng thẳng vừa thúc đẩy đổi mới trong môi trường giáo dục phổ thông.

3.1. Chiến lược cá nhân hóa quản lý căng thẳng

Giáo viên cần phát triển bộ kỹ năng cá nhân để đối phó với căng thẳng hiệu quả. Kỹ năng quản lý thời gian giúp phân bổ hợp lý giữa giảng dạy, hành chính và nghỉ ngơi. Kỹ năng điều chỉnh cảm xúc, bao gồm nhận diện và giải tỏa cảm xúc tiêu cực kịp thời, ngăn chặn tích tụ căng thẳng. Thực hành mindfulness và thể dục thường xuyên được chứng minh giảm cortisol và cải thiện sức khỏe tâm thần. Giáo viên chủ động xây dựng mạng lưới hỗ trợ đồng nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm và cùng giải quyết khó khăn. Những chiến lược cá nhân này giúp bảo tồn nguồn lực tâm lý cần thiết cho đổi mới.

3.2. Giải pháp cấp tổ chức và chính sách giáo dục

Ban giám hiệu nhà trường đóng vai trò then chốt trong việc tạo môi trường làm việc giảm căng thẳng. Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm báo cáo không cần thiết và xây dựng văn hóa phản hồi xây dựng. Chương trình hỗ trợ nhân viên (EAP) với dịch vụ tư vấn tâm lý giúp giáo viên được hỗ trợ chuyên môn kịp thời. Ở cấp chính sách, Bộ Giáo dục cần điều chỉnh áp lực chương trình, tăng quyền tự chủ sáng tạo cho giáo viên và xây dựng tiêu chí đánh giá thực tế hơn. Môi trường tổ chức hỗ trợ là nền tảng để căng thẳng được kiểm soát và đổi mới được nuôi dưỡng.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn cho giáo dục phổ thông

Nghiên cứu về ảnh hưởng của tác nhân gây căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc thông qua phản ứng căng thẳng ở giáo viên phổ thông đã làm rõ cơ chế truyền dẫn quan trọng. Tác nhân gây căng thẳng, dù thể lý hay tâm lý, đều kích hoạt phản ứng căng thẳng tiêu cực làm cạn kiệt nguồn lực cá nhân và triệt tiêu động lực đổi mới. Phát hiện này có giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Về lý luận, nghiên cứu bổ sung bằng chứng cho mô hình JD-R trong bối cảnh giáo dục Việt Nam. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chương trình can thiệp giảm căng thẳng có trọng tâm. Các trường phổ thông cần nhận diện đúng loại tác nhân gây căng thẳng đặc thù để có giải pháp phù hợp. Giáo viên không thể đổi mới sáng tạo nếu bị bủa vây bởi căng thẳng không được kiểm soát. Bảo vệ sức khỏe tâm thần cho giáo viên chính là đầu tư cho chất lượng giáo dục và sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục quốc gia.

4.1. Đóng góp lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu này đóng góp vào lý luận quản trị nhân lực giáo dục bằng cách kiểm chứng mô hình tác nhân gây căng thẳng - phản ứng căng thẳng - hành vi đổi mới trong bối cảnh giáo viên phổ thông Việt Nam. Kết quả xác nhận phản ứng căng thẳng đóng vai trò trung gian truyền dẫn, kết nối tác nhân môi trường với kết quả hành vi. Mô hình này mở rộng hiểu biết về cơ chế tâm lý chi phối đổi mới nghề nghiệp, đồng thời cung cấp khung phân tích có thể áp dụng cho các nhóm nghề dịch vụ con người khác ngoài giáo dục.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp trong thiết kế chương trình đào tạo giáo viên, xây dựng chính sách nhân sự tại trường phổ thông và hoạch định chiến lược đổi mới giáo dục. Khuyến nghị trọng tâm bao gồm: xây dựng hệ thống đánh giá căng thẳng định kỳ cho giáo viên, triển khai chương trình hỗ trợ tâm lý tại trường học, giảm áp lực hành chính và tăng quyền tự chủ chuyên môn. Các Sở Giáo dục nên đưa quản lý căng thẳng vào tiêu chí đánh giá hiệu suất tổ chức. Giáo viên hạnh phúc mới có thể truyền cảm hứng và sáng tạo trong giảng dạy.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Ảnh hưởng của tác nhân gây căng thẳng đến hành vi đổi mới trong công việc thông qua phản ứng căng thẳng ở giáo viên phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Nghề dạy học nói chung được coi là một nghề cao quý với rất nhiều kỳ vọng của gia đình và xã hội trong việc giáo dục, phát triển nhân cách của học sinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nền văn hóa khác nhau cho thấy giảng dạy cũng là một công việc cực kỳ căng thẳng (Johnson & cộng sự, 2005; Kinman & cộng sự, 2011; Kyriacou, 2001; Liu & Onwuegbuzie, 2012; Mintz, 2007; Vargas & cộng sự, 2014). Đặc biệt, căng thẳng nghề nghiệp giữa các giáo viên đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua và so với các ngành nghề khác, tình trạng kiệt sức được cho là tình trạng mắc phải cao nhất ở giáo viên (Aloe & cộng sự, 2014). Để làm rõ nguyên nhân của sự gia tăng mức độ căng thẳng ở đối tượng giáo viên, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã tiến hành khám phá rộng trên nhiều bối cảnh khác nhau với những thang đo tiêu chí đa dạng.

Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tổng hợp các tác nhân gây căng thẳng ở GVPT Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh 09 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Kyriacou & Sutcliffe Anh việc quá tải; mối quan hệ kém với học sinh, đồng (1978); Kyriacou nghiệp; thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ (2011) hội thăng tiến; áp lực về mục tiêu và hiệu quả Borg & cộng sự Malta giảng dạy; hoạt động hành chính nhiều; điều kiện (1991); Boyle & cộng làm việc thiếu thốn, nghèo nàn; và áp lực đối phó sự (1995) Hồng với sự thay đổi từ chương trình, chính sách giáo Jin & cộng sự (2008) Kông dục. 07 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hạn chế về Shernoff & cộng sự Mỹ nguồn lực và sự hỗ trợ; (b) khối lượng công việc (2011) quá tải; (c) sự vô tổ chức ở cấp trường; (d) quản lý hành vi gây rối của học sinh; (e) chính sách về giải trình trách nhiệm; (f) giảng dạy cho các nhóm học sinh không đồng nhất; (g) tình hình kinh tế địa phương thấp; (h) quá tải vai trò; (i) yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên 02 nhóm tác nhân liên quan đến (a) hành vi học Collie & cộng sự Anh sinh và (b) khối lượng công việc (2012) 06 nhóm tác nhân liên quan đến (a) áp lực xã hội, Liu & Onwuegbuzie Trung (b) điểm số học sinh và trách nhiệm của phụ (2012) Quốc huynh, (c) chính sách đánh giá giáo viên của 12 Tác nhân gây căng thẳng Tác giả Bối cảnh trường, (d) khối lượng công việc nặng nề, (e) tình hình kinh tế, và (f) nhiều loại của các kỳ thi mà chính giáo viên đã phải thực hiện. 07 tác nhân liên quan đến tương tác giữa học sinh Travers & Cooper Anh và giáo viên; quản lý/ cấu trúc của trường học; (1996) quy mô lớp học; những thay đổi diễn ra trong Kokkinos (2007) Hy Lạp giáo dục; chính sách đánh giá giáo viên; sự quan Zurlo & cộng sự Italia tâm của quản lý; và thiếu địa vị/ cơ hội thăng tiến (2013, 2016) 04 nhóm tác nhân liên quan đến vấn đề quản lý Fimian & Fastenau Mỹ thời gian; căng thẳng công việc; cơ hội thăng tiến (1990); Richards và phát triển nghề nghiệp; và kỷ luật/ động lực (2012); Von Der học tập của học sinh. Embse & cộng sự (2015, 2016); Nathaniel & cộng sự (2016) Kourmousi & cộng sự Hy Lạp (2015) 03 nhóm tác nhân liên quan đến khối lượng công Skaalvik & SkaalvikNa Uy việc và áp lực thời gian; vấn đề kỷ luật học sinh; (2015, 2017) và động lực học tập của học sinh thấp 05 nhóm tác nhân liên quan đến yêu cầu nhiệm Harmsen & cộng sự Hà Lan vụ cao; các khía cạnh xã hội tiêu cực; khía cạnh (2018) tổ chức kém; thiếu cơ hội phát triển; các khía cạnh tiêu cực của học sinh 03 nhóm tác nhân liên quan đến căng thẳng vai R.

Richards & cộng Anh trò, gồm: quá tải vai trò, không rõ ràng vai trò và sự (2018) mâu thuẫn vai trò 01 nhóm tác nhân liên quan đến sự thay đổi Putwain & von der Anh chương trình giáo dục Embse (2019) 05 nhóm tác nhân liên quan đến thời gian dành Naono‐Nagatomo & Nhật Bản cho công việc; đánh giá năng lực giáo viên; mối cộng sự (2019) quan hệ với các giáo viên khác; tương tác xã hội bên ngoài giảng dạy; và nhiệm vụ ngoài việc giảng dạy 06 nhóm tác nhân liên quan đến hành vi sai trái Abós & cộng sự Tây Ban của học sinh; thiếu sự ra quyết định chung; yêu (2019) Nha cầu mơ hồ từ quản lý; sự đa dạng học sinh; khối lượng công việc; và sự tham gia của phụ huynh không đầy đủ Nguồn: NCS tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu 13 Nhìn chung, từ bảng 1.1 cho thấy: trong mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả có những cách tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Điều này dẫn đến các khuôn khổ hơi khác nhau về tác nhân gây căng thẳng ở giáo viên. Tuy nhiên, các khuôn khổ này có điểm tương đồng nhất định. Đó là tất cả đều bao gồm các yếu tố gây căng thẳng liên quan đến phạm vi công việc (ví dụ: phải đối phó với hành vi sai trái của học sinh), thiếu thốn nguồn lực (ví dụ: hỗ trợ xã hội kém) và áp lực chính trị và xã hội (ví dụ về sự thay đổi trong chính sách giáo dục hoặc thiếu sự đánh giá cao của công chúng) (Stiglbauer & Zuber, 2018).

Chính vì vậy, để có cái nhìn tổng quan về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến giáo viên một cách đầy đủ và phù hợp hơn, NCS đã đồng nhất với quan điểm của Stauffer & Mason (2013) khi tổng hợp theo hai nhóm tác nhân. Cụ thể, phân nhóm thứ nhất là các yếu tố gây căng thẳng cá nhân hoặc yếu tố bên trong (personal stressors or internal factors) – bao gồm những yếu tố liên quan cụ thể đến cá nhân giáo viên, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và đặc điểm nhân khẩu học (Bellman & cộng sự, 2003; Camacho, 2017; Graber, 2018). Phân nhóm thứ hai là các yếu tố gây căng thẳng từ môi trường (environmental stressors) hay còn gọi các tác nhân theo bối cảnh công việc (contextual stressors)/ các yếu tố bên ngoài (external factors) – bao gồm những yếu tố nằm ngoài đặc điểm và bản sắc cá nhân của giáo viên, chẳng hạn như nhu cầu công việc và chính sách của trường học (Graber, 2018; Skaalvik & Skaalvik, 2015; Stauffer & Mason, 2013).  Nhóm 01: Những yếu tố liên quan đến cá nhân (personal stressors): Phần lớn các nghiên cứu khi xét đến các yếu tố liên quan đến cá nhân thường lấy thông tin điều tra liên quan đến:  Thông tin lý lịch cá nhân bao gồm tuổi, giới tính và dân tộc của họ.

 Thông tin cơ bản về giảng dạy bao gồm trình độ học vấn cao nhất của họ, loại bằng cấp đã đạt được, môn học giảng dạy, tổng số năm kinh nghiệm giảng dạy, số năm giảng dạy tại trường hiện tại.  Thông tin về bối cảnh trường học bao gồm quy mô lớp học, cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị, dụng cụ giảng dạy và số lượng hỗ trợ về mặt chuyên môn mà giáo viên nhận được. Theo Bellman & cộng sự (2003), Hayes (2006) tác động của các yếu tố như tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm giảng dạy và tính cách đôi khi có thể tác động lên giáo viên theo cách làm tăng thêm mức độ tác động của các yếu tố gây căng thẳng và có thể làm giảm khả năng đối phó tổng thể của họ. 14  Nhóm 02: Những yếu tố liên quan đến bối cảnh công việc (contextual stressors): Theo Stauffer và Mason (2013), năm khía cạnh lớn được bàn đến nhiều nhất thuộc nhóm này gây căng thẳng ở GVPT bao gồm: i) Tổ chức chính trị - giáo dục (Political & Educational Structures): bàn về các tác nhân gây căng thẳng liên quan đến tình trạng thiếu thốn các vật dụng và thiết bị cơ bản.

Việc không được tiếp cận với các nguồn cung cấp cơ bản đã tạo ra sự thất vọng và bất bình vì một số giáo viên cảm thấy bị buộc phải tiêu tiền của chính họ (Shernoff & cộng sự, 2011). Ngoài ra, các giáo viên còn mô tả sự hỗ trợ hạn chế từ nhà trường, chính quyền địa phương, chính sách đào tạo không đầy đủ, thiếu thông tin về các vấn đề giáo dục đương đại, những thay đổi liên tục chính sách đánh giá giáo viên và những yêu cầu quá mức của ban giám hiệu nhà trường tạo nên những căng thẳng và kiệt sức nghiêm trọng cho giáo viên (Forlin, 2001; Kyriacou, 2011; Stauffer & Mason, 2013; Travers & Cooper, 1996). Bên cạnh đó, theo Liu & Onwuegbuzie (2012), xã hội đặt quá nhiều kỳ vọng vào giáo viên về cách cải thiện điểm thi của học sinh. Đôi khi, các kỳ vọng và yêu cầu đặt ra khiến cho giáo viên bị quá tải vai trò đảm nhận (Shernoff & cộng sự, 2011).

ii) Yếu tố giảng dạy (Instructional Factors): bàn về các vấn đề liên quan khối lượng công việc và trách nhiệm, thời gian để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, cũng như các mối quan tâm về chương trình giảng dạy (Graber, 2018). Đối với giáo viên, tình trạng quá tải trong công việc là thường xuyên diễn ra khi thầy cô buộc phải kiêm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ khác ngoài giảng dạy (Galton, 2008). Theo Francis (2019), nhiều giáo viên phải vật lộn với quỹ thời gian có hạn để chuẩn bị giáo án, thiết kế chương trình giảng dạy, xử lý công việc giấy tờ, tham dự các cuộc họp khác nhau, chấm bài, nhập điểm, phân tích dữ liệu, điền vào biểu mẫu, giải quyết vấn đề về các nhu cầu xã hội, học tập và tình cảm của học sinh của họ, và xử lý các gián đoạn hàng ngày, sự sao lãng và các vấn đề không lường trước được. Hay như khi thay đổi một chương trình giảng dạy, một số giáo viên báo cáo rằng việc trang bị tài liệu học tập cần thiết trong ngày học được giao là một nguồn căng thẳng.

Họ phải làm quá nhiều việc trong thời gian quá ít và giờ làm việc bình thường của họ không đủ để thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến công việc. Nhận thức về khối lượng công việc quá nhiều buộc một số giáo viên phải chuẩn bị bài học và chấm điểm bài tập vào các buổi tối và cuối tuần. Điều này ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân và chính sức khỏe của bản thân họ. Trên thực tế, các trường học thường không được thiết kế để hỗ trợ việc giảng dạy của giáo viên hay khối lượng công việc được giao vượt quá khả năng 15 thực hiện (Holmes, 2005).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ