Luận án tiến sĩ về việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập

Luận án tiến sĩ phân tích tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh thái bình trong bối cảnh hội nhập, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

179
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình hình lao động nông thôn Thái Bình

Tỉnh Thái Bình, với 89,4% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc tạo việc làm cho lao động nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm và tỷ lệ lao động không có việc làm cao đang là vấn đề cấp bách. Kinh tế tỉnh phát triển chưa vững chắc, chủ yếu dựa vào nông nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết với các ngành công nghiệp và dịch vụ. Điều này dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhập không ổn định cho người lao động. Theo số liệu, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 84,3%, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.

1.1. Tình hình lao động và việc làm

Tình hình lao động nông thôn tại Thái Bình đang gặp nhiều khó khăn. Sự gia tăng dân số và số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tạo áp lực lớn lên thị trường việc làm. Nhiều lao động nông thôn không có kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Việc tạo việc làm cho lao động nông thôn không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn cần sự tham gia của các tổ chức kinh tế và xã hội. Cần có các chính sách hỗ trợ và chương trình đào tạo nghề để nâng cao kỹ năng cho lao động nông thôn, từ đó tạo ra cơ hội việc làm bền vững.

II. Chính sách và giải pháp tạo việc làm

Chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn tại Thái Bình cần được hoạch định một cách đồng bộ và hiệu quả. Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể, như phát triển các chương trình đào tạo nghề, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Các tổ chức kinh tế cũng cần tham gia tích cực vào việc tạo việc làm thông qua việc mở rộng sản xuất và kinh doanh. Đặc biệt, việc phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và công nghiệp hóa sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động nông thôn. Cần chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người lao động.

2.1. Đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những giải pháp quan trọng để tạo việc làm. Cần xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời khuyến khích người lao động tham gia các khóa học nâng cao kỹ năng. Việc này không chỉ giúp lao động nông thôn có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Các cơ sở đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được yêu cầu thực tế của thị trường.

III. Tác động của hội nhập kinh tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho lao động nông thôn Thái Bình. Việc mở cửa thị trường giúp tăng cường khả năng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, tạo ra nhiều việc làm mới. Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng lao động. Lao động nông thôn cần phải nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp để có thể cạnh tranh trong môi trường lao động ngày càng khốc liệt. Cần có các chính sách hỗ trợ để giúp lao động nông thôn thích ứng với những thay đổi này, từ đó tạo ra cơ hội việc làm bền vững.

3.1. Cơ hội và thách thức từ hội nhập

Hội nhập kinh tế mang lại cơ hội lớn cho lao động nông thôn thông qua việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là yêu cầu về chất lượng lao động. Nhiều lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng và trình độ học vấn, dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Cần có các chương trình hỗ trợ để nâng cao năng lực cho lao động nông thôn, giúp họ có thể tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Tạo việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình trong bối cảnh hội nhập là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, các tổ chức kinh tế và xã hội để xây dựng các chính sách hiệu quả. Đào tạo nghề, phát triển kinh tế nông nghiệp và công nghiệp hóa là những giải pháp cần thiết để tạo ra nhiều việc làm hơn cho lao động nông thôn. Đồng thời, cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng lao động để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống cho lao động nông thôn mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh Thái Bình.

4.1. Đề xuất giải pháp

Để tạo việc làm cho lao động nông thôn, cần triển khai các giải pháp như: phát triển các chương trình đào tạo nghề phù hợp, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, và tăng cường hỗ trợ từ nhà nước cho các doanh nghiệp. Cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho lao động nông thôn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập cho người dân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔN QUAN T NH H NH N HIÊN CỨU LIÊN QUAN ẾN Ề T I U N N Việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội có tính toàn cầu. ởi vậy, việc nghiên cứu nh m tìm kiếm các giải pháp tạo việc làm luôn được xem là vấn đề cơ bản của sự phát triển nh m đạt được sự ổn định và thịnh vượng của xã hội, của các quốc gia. Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về vấn đề việc làm và tạo việc làm cho người lao động. Trong chương này, nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến đề tài “ v ”, nghiên cứu sinh sẽ tập trung phân tích các công trình tiêu biểu của các học giả, các tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài, chọn lọc, kế thừa để làm rõ cơ sở lý thuyết cho luận án, phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. M s ủ ọ ớ liên quan ế ý yế về v Có thể tổng hợp một số tác ph m tiêu biểu sau đây: - J.Keynes (1936), trong tác ph m “ thuyết chung v việc làm, l i suất và ti n tệ" [28], ông đã phân tích tình trạng việc làm trong mối liên hệ chặt chẽ với sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư và tiết kiệm. Ông cho r ng: khi việc làm tăng lên thì thu nhập tăng lên do đó tiêu d ng tăng. Nhưng do tâm lý chủ quan của người tiêu d ng trong xã hội nên tốc độ tăng tiêu d ng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập vì khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập tăng thêm, làm cho cầu tiêu d ng thực tế giảm tương đối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hóa không bán được.

Đây là nguyên nhân gây khủng hoảng kinh tế, do đó việc làm giảm và gia tăng tình trạng thất nghiệp. Muốn khắc phục tình trạng đó cần phải tăng tổng cầu của nền kinh tế g m cả cầu tiêu d ng và cầu đầu tư. ng cũng cho r ng, trong nền kinh tế thị trường không có sự tự điều tiết cân b ng kinh tế, do vậy cần có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước mới đạt được 10 luan an tăng trưởng cao và đảm bảo việc làm đầy đủ cho người lao động. Việc điều tiết vĩ mô nh m giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế nh m khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm.

Chính phủ có vai trò kích thích tiêu d ng thông qua các khoản chi tiêu của chính phủ hoặc thông qua các chính sách đầu tư. Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tế b ng mọi cách, ông khuyến khích cả việc đầu tư vào các hoạt động như sản xuất vũ khí, chạy đua vũ trang, quân sự hóa nền kinh tế. Như vậy, theo J.Keynes để tạo việc làm cần gia tăng cầu tiêu d ng và cầu đầu tư. Tăng tiêu d ng và đầu tư sẽ kích thích lượng tiền cất trữ đưa vào trong lưu thông, sẽ mở rộng quy mô nền kinh tế, tăng thu nhập.

Đến lượt nó, thu nhập tăng lên sẽ làm tăng đầu tư, tăng việc làm và tăng tiêu d ng. - Arthur Lewis (1954), trong tác ph m “Lý thuyết v phát triển kinh tế” [104], ông đã đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trưởng kinh tế, gọi là “mô hình hai khu vực cổ điển”. Mô hình này được hai nhà kinh tế học John Fei và Gustac Ranis chính thức hóa áp dụng vào thập niên 60 để phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Đặc trưng chủ yếu của mô hình là phân chia nền kinh tế thành hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp và nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực.

Mô hình này cho r ng, khu vực sản xuất nông nghiệp có đặc trưng là trì trệ, năng suất lao động rất thấp, và lao động dư thừa; khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng năng suất lao động cao và có khả năng tự tích lũy. Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động thặng dư từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp. Do có năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu h t lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông chủ ngày càng tăng. Giả định r ng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thì ngu n tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càng tăng lên.

11 luan an Như vậy, để th c đ y sự phát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghệp hiện đại. Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu h t hết lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển. Oshima (1987), trong tác ph m “T ng trưởng kinh tế ở các nước châu gió m a” [19], ông đã luận giải có sức thuyết phục về vai trò của nền nông nghiệp l a nước của các nước châu Á trong quá trình công nghiệp hóa: ng dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước châu Á so với các nước Âu, Mỹ đó là nền nông nghiệp l a nước có tính thời vụ cao. Vào thời gian cao điểm của m a vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động và lại dư thừa nhiều lao động trong lúc nông nhàn.

Do vậy, lao động trong nông nghiệp không được sử dụng một cách đầy đủ, dẫn đến hiệu quả sử dụng lao động thấp, năng suất lao động thấp, thu nhập thấp. Để tạo việc làm cho những tháng nông nhàn ngay tại quê hương thì cần phải đầu tư phát triển các ngành nghề trong kinh tế nông nghiệp, quan tâm phát triển ngành công nghiệp chế biến. ên cạnh đó cần đầu tư thâm canh, xen canh tăng vụ, đa dạng hóa cây tr ng, mở rộng chăn nuôi gia s c, gia cầm. Đ ng thời thu h t lao động nhàn rỗi trong nông thôn vào các ngành sản xuất công nghiệp cần sử dụng nhiều lao động.

Khi lao động nông nghiệp có việc làm đầy đủ sẽ làm cho mức thu nhập của họ h ng năm tăng lên. Nhu cầu tiêu d ng tăng, từ đó mở rộng được thị trường cho các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhờ đó mà lao động dư thừa trong nông nghiệp sẽ được sử dụng. Như vậy, theo Harry T. Oshima để tạo việc làm cho lao động nông nghiệp thì không chỉ ưu tiên phát triển khu vực công nghiệp mà khu vực nông nghiệp cũng cần được quan tâm đầu tư thích đáng, tập trung vào phát triển nông nghiệp và sử dụng lao động nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả.

Mặt khác cần phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, tạo ra thị trường của nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. M s ủ ổ ớ về vấ ề ị ờ v v ở â Á q ế Các nghiên cứu điển hình phải kể đến như: 12 luan an - ADB (2006), “Labor Markets in Asia: Issues and Perspectives”[94] đã đi sâu nghiên cứu thực trạng thất nghiệp và thiếu việc làm có xu hướng gia tăng ở các nước châu Á. Trước thực trạng đó, câu hỏi đặt ra là tại sao các nước ở châu Á không thể tạo việc làm đầy đủ cho lực lượng lao động ngày càng gia tăng? Phải chăng là do thị trường sức lao động ở các nước này quá cứng nhắc? Luận giải vấn đề này, các tác giả cho r ng trong một số trường hợp cụ thể ở châu Á khi cải cách kinh tế và thị trường lao động đã tạo nên sự gia tăng trên diện rộng tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Do vậy, các tác giả cho r ng, trong quá trình phát triển kinh tế, chính phủ cần phải xây dựng và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các mục tiêu kết hợp tăng trưởng với phát triển ngu n nhân lực để cân đối cung cầu thị trường lao động một cách hợp lý.

- ILO and ADB (2014), “Asean Community 2015: Managing Intergration for Better Jobs and Shared Prosperity” [97], đã nghiên cứu tác động của AEC đối với thị trường lao động các nước trong khu vực, đặc biệt đã dự báo nhu cầu việc làm và những thay đổi về ngành, nghề trong AEC. Báo cáo khẳng định quá trình hội nhập sâu hơn mang đến nhiều triển vọng kinh tế to lớn, nhưng để biến những lợi ích này thành sự thịnh vượng chung và phát triển công b ng cần có những cải cách mạnh mẽ về thể chế cho thị trường lao động. Trên cơ sở xem x t tác động có thể có của AEC với thị trường lao động Việt Nam, ILO đã đề xuất 5 giải pháp cần tập trung ưu tiên đối với thị trường lao động Việt Nam như: (1) xây dựng một khung chính sách nh m nâng cao năng suất, chất lượng việc làm trong ngành nông nghiệp, đ ng thời đa dạng hóa việc làm trong ngành công nghiệp chế tạo; (2) mở rộng hệ thống an sinh xã hội; (3) nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; (4) đ y mạnh thương lượng tập thể nh m tăng cường sự liên kết giữa thu nhập và năng suất cũng như giảm thiểu các xung đột về quan hệ lao động; (5) tăng cường bảo trợ và công nhận trình độ kỹ năng của lao động di cư. - ADBI, ILO and OECD (2015): “Building Human Capital through Labor Migration in Asia” [95], đã khẳng định: khi nền kinh tế thế giới hội nhập sâu rộng như hiện nay thì di cư lao động là một điều kiện tiên quyết để tối đa hóa 13 luan an việc phân bổ, sử dụng hiệu quả ngu n lực lao động.

Trên cơ sở phân tích thực trạng di cư lao động trong khu vực châu Á và giữa các nước châu Á với các nước OECD, báo cáo chỉ rõ, khu vực châu Á với sự d i dào về dân số có t lệ di cư toàn cầu lớn, chiếm đến 30% tổng số người di cư quốc tế trong 71 triệu người .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập" của tác giả Phí Thị Nguyệt, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Cúc, được thực hiện tại Học Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung của luận án không chỉ giúp nâng cao nhận thức về tình hình việc làm của lao động nông thôn mà còn cung cấp những kiến thức quý báu cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực tại khu vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý kinh tế và phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ", nơi đề cập đến quản lý xây dựng trong lĩnh vực nông nghiệp, hay "Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn tại vùng thu hồi đất Hà Nội", nghiên cứu về chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn, một vấn đề có liên quan mật thiết đến việc làm cho lao động nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách và giải pháp trong lĩnh vực việc làm cho lao động nông thôn.