Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng để xây dựng NTM 1. Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 1. Khái niệm về Cộng đồng Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng (commmunity) có nhiều tuyến nghĩa khác nhau, đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: xã hội học, dân tộc học, y học.Khái niệm cộng đồng thường dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và đặc tính xã hội.
Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Á, cộng đồng Châu Âu.), một khu vực (cộng đồng Asean), cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo (cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Hoa Kỳ. Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị như làng/bản, xã, huyện.những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội… (Nguyễn Hữu Hồng ,2008) [11]. Từ điển tiếng Việt giải thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” (Viện ngôn ngữ học ,1992). Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung,.
Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung. Theo (Korten, 1987) Cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng một môi trường, có những đặc điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau. Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000), cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ) là một nhóm người cùng chia sẻ, chịu 5 giàng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên (Trần Thị Thanh Hà, 2010) [10]. Cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, họ có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung (Phí Thị Hồng Minh, 2005) [13].
- Cộng đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích chung: + Cộng đồng địa lý: Cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc mối quan tâm, chung đặc điểm văn hóa-xã hội, có mối quan hệ ràng buộc + Cộng đồng chức năng: Cùng hoặc không cùng địa phương hoặc địa bàn cư trú, ó cùng lợi ích (nghề nghiệp, sở thích, hợp tác,…). Nguồn lực và huy động nguồn lực a. Nguồn lực:Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình. Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông tin” (Ban chấp hành Trung ương khóa X, 2008) [1] Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển.
Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu là tổng thể các nguồn lực vật chất cho phát triển,ví dụ tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền. Theo nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định (ví dụ: giảm nghèo và phát triển an sinh xã hội). Nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới được hiểu là tổng thể các nguồn vật chất tự nhiên, tiền, nhân lực, vật lực và giá trị của các yếu tố xã hội có được từ các nguồn khác nhau (ngân sách trung ương và địa phương, đầu tư & tín dụng từ các cá nhân và tổ chức, từ dân cư và cộng đồng; nguồn tài trợ, cho biếu tặng,.) có thể huy động vào xây dựng NTM.Huy động nguồn lực: là các giải pháp, cơ chế, chính sách nhằm tìm kiếm, khai thác các nguồn lực kể trên cho hoạt động xây dựng NTM một cách có lợi nhất cho cộng đồng địa phương và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.Ví dụ: Huy động sức dân để xây dựng giao thông nông thôn theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" Nhà nước hỗ trợ nguyên liệu (đá, xi măng.), nhân dân đóng góp ngày công xây dựng các công trình giao thông nông thôn (Youtobe: Chương trình đào tạo từ xa về Nông thôn mới, 2014) [34]. Nguồn lực cộng đồng Theo nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ, bao gồm 05 thành phần sau (Alison Mathie, Gord cuningham, 2002) [27].
- Các nguồn tài sản thiên nhiên (Natural capital): là các nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng. Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản… - Các nguồn tài sản vật chất (Physical capital): là các công trình được xây dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận). Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm). - Các nguồn tài sản về con người (human capital): gồm các kỹ năng (skill), kiến thức (knowledge), năng lực (able) và tài trí (talent) của các thành viên trong cộng đồng.
- Các nguồn tài sản xã hội (Social capital): mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin (trust). - Các nguồn tài sản tài chính (financial capital): là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng. Huy dộng nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn 1.Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn: Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì: - Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình. - Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương mà quá trình phát triển phải dựa vào đó.
7 - Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát triển. - Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được). - Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác (Nguyễn Hữu Hồng, 2008) [11]. Phát triển nông thôn có sự tham gia của cộng đồng Hiện nay trên thế giới, tồn tại rất nhiều quan điểm về phát triển Nông thôn như sau: Ngân hàng thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa :“Phát triển Nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn.
Nó giúp cho những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Đinh Ngọc Lan, 2007) [12]. Theo UmaLele: Phát triển nông thôn được khái niệm như là một quá trình cải thiện mức sống của hầu hết những người thu nhập thấp đang sinh sống trong các vùng nông thôn, đồng thời tạo lập tiến trình phát triển bền vững của họ”. Theo Guy Hunter: “Mục đích cơ bản của phát triển nông thôn là phải làm cho hầu hết dân cư nông thôn nghèo được thoả mãn nhu cầu sống thiết yếu bằng sự nỗ lực của chính bản thân họ (Phí Thị Hồng Minh, 2005) [13]. Trong điều kiện ở Việt Nam, tổng hợp từ quan điểm phát triển kinh tế xã hội của chính phủ thì Phát triển Nông thôn được hiểu như sau :“Phát triển Nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
Quá trình này, trước hết do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của nhà nước và các tổ chức khác” (Đinh Ngọc Lan, 2007) [12]. Qua khái niệm trên ta thấy, mục tiêu của PTNT là cải thiện cuộc sống cho người dân (cộng đồng) nông thôn và nhấn mạnh quá trình này trước hết là do chính họ (cộng đồng). Điều này thể hiện một phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, 8 nghĩa là sự PTNT phải dựa trên lợi ích và sự tham gia của cộng đồng sống trong khu vực đó. Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng dựa vào những triết lý sau: - Chính người dân biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình - Cộng đồng là người quản lý các nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương.
là những cơ sở cho PTNT. - Kỹ năng, truyền thống và năng lực của cộng đồng là tiềm năng chính để phát triển. - Sự cam kết, đồng thuận và cộng tác của cộng đồng là sức mạnh sống còn cho quá trình phát triển. Bất kỳ một hoạt động nào không nhận được sự ủng hộ của cộng đồng sẽ dễ thất bại.
Một cộng đồng càng phát triển và càng năng động thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại xây dựng cộng đồng của mình (Đinh Ngọc Lan, 2007) [12]. Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng (Community-Based Rural Development - CBRD) là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn. Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ biến. Mỗi chương trình/dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn… Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng.