Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn nhằm thay đổi toàn diện diện mạo nông thôn và nâng cấp đời sống của người dân. Tuy nhiên, tại các huyện miền núi vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30a/NQ-CP của Chính phủ như huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, quá trình triển khai gặp rất nhiều thách thức. Đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện vẫn ở mức 47,75% theo chuẩn nghèo đa chiều, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 chỉ đạt 16 triệu đồng/người/năm, và số tiêu chí nông thôn mới đạt bình quân toàn huyện dừng ở mức 6,7 tiêu chí/xã. Đặc biệt, chưa có xã nào trên địa bàn hoàn thành đủ 19 tiêu chí quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng, cơ chế và mức độ huy động nguồn lực cộng đồng trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp còn hạn hẹp. Mục tiêu cụ thể là phân tích các nguồn lực nội tại bao gồm vốn tài chính, sức lao động, đất đai cơ sở vật chất và sự tham gia ý kiến của người dân tại 03 xã nghiên cứu điển hình là Ảng Nưa, Ảng Tở và Mường Đăng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016. Qua đó, đề tài nhận diện các rào cản đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra các giải pháp giải tỏa áp lực nợ đọng xây dựng cơ bản, nâng cao tỷ lệ cứng hóa đường giao thông trục xã từ mức 36% hiện tại lên các mục tiêu cao hơn, đồng thời khơi dậy tính tự chủ của cư dân nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) của hai học giả Jody Kretzmann và John McKnight, kết hợp với khung 05 nguồn vốn cộng đồng do Alison Mathie và Gord Cunningham phát triển. Khung lý thuyết này khẳng định sự phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc khai thác các tài sản sẵn có trong cộng đồng thay vì chỉ trông chờ vào nguồn lực cứu trợ từ bên ngoài. Năm nguồn vốn cốt lõi bao gồm: nguồn vốn tự nhiên (đất đai, rừng), nguồn vốn vật chất (hạ tầng cơ sở, thiết bị), nguồn vốn con người (kỹ năng, sức khỏe, tri thức bản địa), nguồn vốn xã hội (niềm tin, sự gắn kết thôn bản) và nguồn vốn tài chính (tiết kiệm, tích lũy kinh tế hộ).

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng khung phân tích sự tham gia của Cohen và Uphoff với 04 giai đoạn tương tác: tham gia ra quyết định, tham gia thực hiện, tham gia hưởng lợi và tham gia giám sát, đánh giá. Các khái niệm nền tảng về xây dựng nông thôn mới, quy chế dân chủ cơ sở và cơ chế huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân được chuẩn hóa trên cơ sở các văn bản pháp lý chủ chốt như Quyết định số 491/QĐ-TTg, Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 và Nghị định số 24/1999/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng (PRA) kết hợp điều tra xã hội học với cỡ mẫu khảo sát trực tiếp là 135 hộ gia đình. Mẫu điều tra được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 03 xã đại diện cho 03 mức độ phát triển khác nhau của huyện: xã Ảng Nưa (đạt 16 tiêu chí, mức thu nhập cao), xã Ảng Tở (đạt 06 tiêu chí, mức thu nhập trung bình) và xã Mường Đăng (đạt 04 tiêu chí, mức thu nhập thấp). Tại mỗi xã, tác giả khảo sát 03 thôn, mỗi thôn chọn 15 hộ gia đình đại diện cân bằng cho 03 nhóm: hộ khá, hộ cận nghèo và hộ nghèo.

Ngoài ra, nguồn dữ liệu sơ cấp còn được bổ sung thông qua phỏng vấn sâu 25 cán bộ cấp xã, thôn và 08 cán bộ quản lý cấp huyện thuộc các phòng chuyên môn. Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ hệ thống báo cáo giai đoạn 2011-2016 của Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Mường Ảng và Văn phòng điều phối tỉnh Điện Biên. Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả (tính giá trị trung bình mẫu, phương sai, độ lệch chuẩn), thống kê so sánh và phân tích ma trận SWOT để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp và xử lý trên phần mềm thống kê chuyên dụng trong khung thời gian thực địa từ tháng 07/2016 đến tháng 08/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiến độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới giữa các xã trên địa bàn huyện Mường Ảng có sự phân hóa rất sâu sắc. Tính đến tháng 12 năm 2016, số tiêu chí đạt bình quân của toàn huyện là 6,7 tiêu chí/xã. Trong khi xã điểm Ảng Nưa đã hoàn thành 16/19 tiêu chí thì xã Mường Đăng mới đạt 04 tiêu chí. Toàn huyện có tới 04 trên tổng số 09 xã (chiếm 44,4%) thuộc nhóm đạt dưới 05 tiêu chí. Mặc dù 100% số xã đã hoàn thành công tác lập và phê duyệt quy hoạch (tiêu chí số 1), song việc cắm mốc quy hoạch ngoài thực địa vẫn chưa thể triển khai do hạn chế về kinh phí.

Thứ hai, hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là mạng lưới giao thông. Toàn huyện mới chỉ có 97,4 km trên tổng số 270,9 km đường trục xã và liên xã được cứng hóa đạt chuẩn, tương đương tỷ lệ 36%. Cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 cho thấy sự phụ thuộc rất lớn vào ngân sách nhà nước, trong khi nguồn vốn huy động trực tiếp bằng tiền mặt từ người dân chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn dưới 5% tổng nhu cầu vốn.

Thứ ba, nguồn lực đóng góp của cộng đồng tập trung chủ yếu vào việc hiến đất và đóng góp ngày công lao động. Tại 03 xã điều tra, người dân đã hiến hàng nghìn mét vuông đất nông nghiệp và đất thổ cư để mở rộng đường ngõ xóm, nhà văn hóa thôn bản. Hàng chục nghìn ngày công lao động đã được huy động để phát dọn mặt bằng và đổ bê tông đường giao thông nông thôn. Ngược lại, khả năng huy động tiền mặt gặp trở ngại lớn do thu nhập bình quân đầu người thấp và tỷ lệ nghèo đa chiều chiếm tới 47,75%.

Thứ tư, mức độ tham gia ý kiến và giám sát của người dân còn mang tính hình thức. Kết quả khảo sát cán bộ và người dân cho thấy đa số hộ gia đình chỉ tham gia ở khâu thực hiện và cung cấp sức lao động, trong khi tỷ lệ tham gia bàn bạc, quyết định chủ trương đầu tư hoặc tham gia vào Ban giám sát đầu tư cộng đồng còn rất hạn chế.

Thảo luận kết quả

Thực trạng huy động nguồn lực tại Mường Ảng phản ánh rõ nét đặc thù của một huyện miền núi mới thành lập từ năm 2007, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số (dân tộc Thái chiếm 78,1%, dân tộc Mông chiếm 11,8%). Với tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm 41,42% và thời gian nông nhàn kéo dài từ 02 đến 04 tháng mỗi năm, nguồn lực lao động và đất đai chính là hai tài sản khả dụng nhất trong mô hình nội lực ABCD.

Khi biểu diễn cơ cấu nguồn vốn đầu tư và ma trận SWOT, dữ liệu cho thấy sự mất cân đối rõ rệt giữa nhu cầu vốn xây dựng cơ bản và khả năng tích lũy kinh tế hộ. Việc trông chờ, ỷ lại vào các chương trình hỗ trợ như Chương trình 135 hay nguồn vốn lồng ghép theo Nghị quyết 30a vẫn còn phổ biến trong nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân. So sánh với các nghiên cứu tại các tỉnh miền núi phía Bắc, việc thúc đẩy các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị cao như cây cà phê, cây mắc ca chính là tiền đề cốt lõi để nâng cao năng lực tài chính của hộ gia đình, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc đóng góp xây dựng nông thôn mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ các rào cản và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 04 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động nhằm thay đổi căn bản nhận thức của người dân từ tâm lý thụ hưởng sang vai trò chủ thể. Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới cấp huyện phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại các xã triển khai các chiến dịch truyền thông đa ngôn ngữ, gắn liền với phong tục tập quán bản địa. Mục tiêu hướng tới là đạt 100% cán bộ thôn bản và trên 90% người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2017-2020.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm nâng cao thu nhập và khả năng tích lũy của cư dân nông thôn. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì phối hợp với các hợp tác xã mở rộng diện tích thâm canh cây cà phê và phát triển chuỗi giá trị cây mắc ca. Phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người toàn huyện đạt trên 25 triệu đồng/người/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 3% đến 4%/năm.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý dân chủ và tăng cường năng lực cho Ban giám sát đầu tư cộng đồng. Ủy ban nhân dân các xã cần thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 và Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, công khai minh bạch 100% các khoản đóng góp và kinh phí thực hiện dự án. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng giám sát kỹ thuật công trình cho thành viên ban giám sát thôn bản nhằm bảo đảm nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng.

Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức huy động và lồng ghép linh hoạt các nguồn vốn hỗ trợ. Ủy ban nhân dân huyện Mường Ảng cần chủ động lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình 135, nguồn ngân sách theo Nghị quyết 30a và các chương trình tín dụng chính sách xã hội để ưu tiên hoàn thiện hạ tầng giao thông. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cứng hóa đường trục xã đạt chuẩn từ 36% lên trên 60% vào năm 2020, kết hợp kêu gọi doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ đồng hành đầu tư vào các công trình phục vụ dân sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ lãnh đạo, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ chuyên trách văn phòng điều phối nông thôn mới cấp tỉnh, huyện, xã tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn giúp thiết kế chính sách huy động sức dân phù hợp với điều kiện kinh tế khó khăn.

Nhóm các nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học nông thôn. Đề tài đóng góp bộ khung lý thuyết hoàn chỉnh về phát triển nội lực (ABCD) và phương pháp thu thập dữ liệu có sự tham gia (PRA).

Nhóm các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phát triển xã hội đang triển khai các dự án nâng cao năng lực cộng đồng, giảm nghèo bền vững và phát triển sinh kế tại khu vực Tây Bắc. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu xác thực về tập quán và mức độ gắn kết cộng đồng tại địa phương.

Nhóm các nhà quản trị hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp đang tìm kiếm cơ hội đầu tư liên kết chuỗi giá trị nông sản tại huyện Mường Ảng và tỉnh Điện Biên, giúp định hình chiến lược gắn kết lợi ích doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội tại địa bàn nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Khó khăn lớn nhất trong việc huy động vốn bằng tiền mặt từ người dân tại huyện Mường Ảng là gì? Khó khăn lớn nhất là điều kiện kinh tế hộ còn nghèo nàn, với tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 lên tới 47,75% và thu nhập bình quân năm 2015 chỉ đạt 16 triệu đồng/người/năm. Đa số hộ dân sản xuất nông nghiệp thuần túy, nguồn thu nhập bấp bênh nên việc đóng góp bằng tiền mặt vượt quá khả năng tài chính thực tế của họ.

Phương pháp tiếp cận ABCD đã được áp dụng như thế nào trong nghiên cứu này? Phương pháp ABCD tập trung nhận diện và khai thác 05 nguồn vốn nội tại gồm tự nhiên, vật chất, con người, xã hội và tài chính sẵn có tại địa phương. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ bên ngoài, nghiên cứu chỉ ra cách tận dụng quỹ đất, nguồn lao động nông nhàn 02 đến 04 tháng mỗi năm và tinh thần đoàn kết bản làng để tạo sức bật phát triển hạ tầng.

Người dân tại huyện Mường Ảng tham gia đóng góp chủ yếu qua các hình thức nào? Hình thức đóng góp phổ biến và hiệu quả nhất là hiến đất làm đường giao thông, nhà văn hóa và tham gia ngày công lao động trực tiếp. Nhờ sự vận động kiên trì của chính quyền và đoàn thể, hàng nghìn mét vuông đất canh tác và thổ cư đã được người dân tự nguyện bàn giao mà không yêu cầu đền bù kinh phí.

Tại sao sự tham gia giám sát của người dân vào các công trình xây dựng nông thôn mới còn hạn chế? Nguyên nhân chủ yếu do trình độ dân trí không đồng đều, người dân thiếu kỹ năng chuyên môn để đọc bản vẽ hoặc kiểm tra chất lượng kỹ thuật xây dựng. Thêm vào đó, các Ban giám sát đầu tư cộng đồng tại cơ sở chưa được đào tạo bài bản và thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên.

Luận văn đã đưa ra giải pháp gì để tạo nguồn thu nhập bền vững cho người dân nông thôn? Tác giả kiến nghị đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tập trung mở rộng vùng chuyên canh cây cà phê và phát triển diện tích trồng cây mắc ca. Việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất với hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ giúp giải quyết việc làm trong thời gian nông nhàn và nâng cao thu nhập bình quân của người dân.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về huy động nguồn lực nội tại (ABCD) và khung phân tích sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn miền núi đặc thù.
  • Khảo sát thực tế 135 hộ gia đình và 33 cán bộ đã chỉ ra bức tranh thực trạng phân hóa rõ nét: bình quân toàn huyện mới đạt 6,7 tiêu chí/xã, tỷ lệ cứng hóa đường liên xã đạt 36% và nguồn lực cộng đồng chủ yếu là hiến đất cùng ngày công lao động.
  • Luận văn khẳng định việc phát huy quy chế dân chủ cơ sở và công khai minh bạch tài chính là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin và khơi dậy sức mạnh đoàn kết của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Hệ thống 04 nhóm giải pháp toàn diện đã xác định rõ mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 35%, nâng thu nhập bình quân lên trên 25 triệu đồng/người/năm và hoàn thiện hạ tầng thiết yếu trong giai đoạn 2017-2020.
  • Các cấp chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách cần nhanh chóng nghiên cứu, áp dụng linh hoạt phương pháp tiếp cận từ dưới lên để đảm bảo công cuộc xây dựng nông thôn mới tại vùng cao diễn ra thực chất và bền vững.