CHƯƠNG 1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn thành phố Tuyên Quang trước năm 2008 1. Điều kiện tự nhiên Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía nam tỉnh Tuyên Quang, cách Hà Nội khoảng 165 km theo Quốc lộ 2 và 130 km theo đường Sơn Nam, có vị trí địa lý: Phía nam giáp huyện Sơn Dương.
Các phía còn lại giáp huyện Yên Sơn. Thành phố Tuyên Quang có diện tích 184,38 km², dân số năm 2018 là 191.118 người, mật độ dân số đạt 1.037 người/km². Thành phố nằm hai bên bờ sông Lô, được che chắn bởi các dãy núi cao và xen kẽ nhiều đồi núi thấp. Độ cao trung bình dưới 500m và hướng thấp dần từ bắc xuống nam, độ dốc thấp dần dưới 25° [32].
Khí hậu của thành phố Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có 4 mùa rõ rệt, mùa đông nhiệt đới lạnh - khô hạn, mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều, mùa xuân và mùa thu ngắn, mang ý nghĩa chuyển tiếp giữa 2 mùa chính là đông và hè. Lượng mưa trung bình hằng năm đạt 1. Nhiệt độ trung bình 22°- 23 °C. Độ ẩm bình quân năm là 85%.
Thành phố Tuyên Quang là đầu mối giao thông trong tỉnh và liên tỉnh giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Việt Nam. Trên địa bàn có các tuyến quốc lộ và đường tỉnh chạy qua: Quốc lộ 2 dài 20km, nối Tuyên Quang với Hà Nội qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc về phía nam, với Hà Giang về phía bắc; Quốc lộ 37 dài 11km nối Tuyên Quang với Yên Bái và các tỉnh Tây Bắc; với Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và các tỉnh Đông Bắc; Quốc lộ 2C dài 9,1km; đường ĐT. Đường thủy có sông Lô, tàu lớn xuôi tới Việt Trì, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Mùa mưa, tàu nhỏ có thể ngược sông Lô lên đến thành 11 phố Hà Giang; hoặc ngược sông Gâm lên đến Chiêm Hóa.
rất thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh. Địa hình chủ yếu của thành phố Tuyên Quang là vùng đồi núi thấp, có độ cao từ 75 m - 200 m so với mực nước biển. Thành phố Tuyên Quang được bao bọc bởi dãy núi Dùm có đỉnh cao nhất 529 m ở phía đông bắc; dãy núi Là, đỉnh cao nhất 948 m ở phía tây bắc và phía đông nam là dãy núi Nghiêm, đỉnh cao nhất 482 m. Nguồn nước từ ba dãy núi cao đổ về sông Lô chảy ngang qua thành phố Tuyên Quang tạo thành hệ thống ngòi, suối, ao hồ tương đối dày, gồm suối Là, suối Chả, suối Thục, suối Kỳ Lãm, suối Yên Lĩnh, suối Thôn Thượng, hồ Tân Quang, hồ Cô Ve, hồ Trung Việt, hồ Kỳ Lãm.
Đặc biệt, có dòng sông Lô chảy qua trung tâm thành phố theo hướng bắc - nam (từ Ghềnh Gà đến Tân Tạo), dài gần 20km. Với nguồn tài nguyên: Có 9 điểm mỏ đá vôi ở Tràng Đà với tổng trữ lượng cấp P2: 783 triệu m3, chất lượng tốt, có khả năng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng quy mô lớn. Ngoài ra, còn có mỏ chì - kẽm. Sự ưu đãi của thiên nhiên đã mang lại sắc thái một đô thị đặc thù có rừng, có núi, có sông, có suối; tạo nét đặc sắc về kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và sự cân bằng về môi trường sinh thái cho thành phố Tuyên Quang.
Với vị trí địa lý quan trọng, tài nguyên, khi hậu như vậy địa bàn thành phố Tuyên Quang ngày nay đã sớm trở thành nơi tụ cư của người Kinh, Tày, Cao Lan. thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng … 1. Đặc điểm kinh tế, xã hội Trong quá trình lịch sử, thành phố Tuyên Quang luôn là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, là thủ phủ của một vùng "an biên" che chắn cho kinh đô Thăng Long về phía bắc. Sau năm 1954, thị xã Tuyên Quang có 3 phường: Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang.
Ngày 26/7/1968, chuyển 4 xã: Ỷ La, Hưng Thành, Nông Tiến, Tràng Đà thuộc huyện Yên Sơn về thị xã Tuyên Quang quản lý. Thị xã Tuyên Quang lúc này có 3 phường nội thị là Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang và 4 xã ngoại thị: Ỷ La, Hưng Thành, 12 Nông Tiến và Tràng Đà. Sau năm 1975, thị xã Tuyên Quang vẫn giữ nguyên tổ chức hành chính gồm 3 phường và 4 xã. Những năm 1975 - 1991, thị xã Tuyên Quang giữ vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tuyên (do hợp nhất 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang).
Ngày 12/8/1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, thị xã Tuyên Quang trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Quang. Năm 2008, thị xã Tuyên Quang được điều chỉnh địa giới hành chính, nhập thêm 5 xã: An Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn (thuộc huyện Yên Sơn); đồng thời, thành lập phường Ỷ La và phường Tân Hà trên cơ sở xã Ỷ La; nâng cấp hai xã Nông Tiến và Hưng Thành lên thành phường. Dân số thị xã đạt mức gần 100.000 người, tăng gần gấp 2 lần so với năm 1990 [32]. Ngày 25/6/2009, thị xã Tuyên Quang được công nhận là đô thị loại III.
Ngày 02/7/2010, thị xã Tuyên Quang chính thức trở thành thành phố Tuyên Quang. Thành phố Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 11. Dân cư của 5 xã nông thôn thành phố là 25.356 người, chiếm 4,4% so với dân cư thành phố (năm 2019). Thành phố Tuyên Quang có 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 3 dân tộc có số dân đông là dân tộc Kinh, dân tộc Tày và nhóm Cao Lan thuộc dân tộc Sán Chay.
Thành phố Tuyên Quang với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá - xã hội, đầu mối giao thông của tỉnh, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sau 5 năm thành lập, thành phố Tuyên Quang đã không ngừng phát triển, diện mạo đô thị ngày càng đổi thay khang trang và đẹp đẽ hơn. Đây là động lực quan trọng để thành phố tiếp tục phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, thành phố có tiềm năng về đất đai, nguồn nhân lực, hạ tầng đô thị được đầu tư xây dựng với điểm nhấn là cụm Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang gắn với Quảng trường Nguyễn Tất Thành và các thiết chế văn hóa; có các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch, dịch vụ.
Càng thuận lợi hơn 13 trong thời gian 2015 - 2018, tỉnh Tuyên Quang tích cực thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư một số dự án trên địa bàn thành phố; đặc biệt khi tuyến đường cao tốc đoạn Tuyên Quang - Phú Thọ nối vào đường cao tốc Côn Minh - Lào Cai - Hải Phòng được đầu tư xây dựng, thành phố Tuyên Quang sẽ kết nối với các trung tâm kinh tế, các tỉnh, thành phố. Đây chính là điều kiện rất thuận lợi để thành phố Tuyên Quang hội nhập và phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Tính đến đầu năm 2010, toàn thành phố có 28 hợp tác xã thủ công nghiệp, 391 doanh nghiệp đóng trên địa bàn (trong đó 56 công ty cổ phần, 257 công ty trách nhiệm hữu hạn, 78 doanh nghiệp tư nhân), tổng thu ngân sách nhà nước ước tính gần 160 tỷ đồng. Trên địa bàn thành phố còn có Khu Công nghiệp Long Bình An với quy mô 109 ha và 2 điểm công nghiệp tập trung tại phường Tân Hà và phường Nông Tiến cùng với một số khu đô thị đã và đang hình thành như khu đô thị Tân Bình (phường Nông Tiến), khu đô thị Tân Phát (phường Ỷ La), khu đô thị Minh Thanh (phường Tân Hà), khu đô thị Đông Sơn (phường Ỷ La và phường Hưng Thành).
Cùng với sự phát triển về kinh tế, tình hình văn hóa - xã hội của thành phố cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Giáo dục - đào tạo được quan tâm, chất lượng giáo dục được nâng cao, giữ vững thành quả phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến năm 2010, trung học cơ sở thành phố có 5/13 trường đạt chuẩn Quốc gia. Văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao có nhiều hoạt động sôi nổi phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Các lễ hội truyền thống được duy trì. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai sâu rộng; việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc được đẩy mạnh. Tỷ lệ gia đình văn hoá đạt 90,2% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 0,8%); tỷ lệ thôn, xóm, tổ dân phố văn hoá đạt 73,9% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 1,2%). 14 Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục được triển khai, đảm bảo các mục tiêu đề ra.
Lao động, việc làm và đời sống xã hội luôn được quan tâm. Thành phố Tuyên Quang là nơi có bề dày về lịch sử, văn hóa. Di tích thành cổ Tuyên Quang được xây dựng vào cuối XVI (thời Nhà Mạc), có cấu trúc theo kiểu hình vuông, tường thành dài 275 m, cao 3,5m, dày 0,8m. Tổng diện tích thành cổ là 75.
Ngoài thành là hào nước; gạch xây thành làm bằng thứ đất có quặng sắt rất rắn.Với địa hình và cấu trúc đó khiến cho thành có một vị trí phòng thủ lợi hại và là vị trí quân sự trọng yếu. Nơi đây đã được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử hào hùng của nhân dân Tuyên Quang. Di tích còn lại gồm có hai cổng thành ở phía tây và phía bắc cùng một số đoạn tường thành. Di tích Đền Hạ (phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang): Được xây dựng vào năm 1738, thời vua Lê Cảnh Hưng (thời Hậu Lê), thờ Mẫu thần.
Đền có mái đao cong duyên dáng với những biểu tượng rồng, phượng đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy. Các ngày lễ lớn được diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Khu đền in bóng bên dòng sông Lô, nơi có khúc sông uốn lượn hình rồng. Di tích mang đậm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo.
Hiện nay, trong đền còn có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bức tranh chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao.