Luận Văn Thạc Sĩ: Đảng Bộ Thành Phố Tuyên Quang Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Giai Đoạn 2008-2018

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích đảng bộ thành phố tuyên quang tỉnh tuyên quang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Tuyên Quang trong việc thực hiện Chương trình nông thôn mới từ năm 2008 đến 2018. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển nông thôn trong chiến lược kinh tế nông thônđổi mới nông thôn của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn là trọng tâm phát triển, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thành phố Tuyên Quang, với điều kiện tự nhiên thuận lợi và cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là địa bàn lý tưởng để nghiên cứu quá trình này.

1.1. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của luận văn thạc sĩ là làm rõ quá trình Đảng bộ Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, từ đó đánh giá thành tựu nông thôn mớithách thức nông thôn mới trong giai đoạn 2008-2018. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 5 xã thuộc thành phố Tuyên Quang, tập trung vào các lĩnh vực như quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa, xã hội và môi trường, và hệ thống chính trị.

1.2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp lịch sửphương pháp logic, cùng với các phương pháp liên ngành như khảo sát thực địa, phân tích, thống kê, và so sánh. Nguồn tư liệu bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết, chỉ thị, và các công trình nghiên cứu liên quan.

II. Quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Đảng bộ Tuyên Quang đã triển khai Chương trình nông thôn mới thông qua các chủ trương và biện pháp cụ thể. Quá trình này bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường tuyên truyền, và nâng cao năng lực cán bộ. Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của chương trình, từ quy hoạch đến xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội. Kết quả đạt được là sự cải thiện đáng kể về kinh tế nông thôn, văn hóa, xã hội, và môi trường.

2.1. Chủ trương và chỉ đạo thực hiện

Đảng bộ Tuyên Quang đã đề ra các chủ trương cụ thể để thực hiện Chương trình nông thôn mới, bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường tuyên truyền, và nâng cao năng lực cán bộ. Chính quyền địa phương đã triển khai các biện pháp như quy hoạch, xây dựng hạ tầng, và phát triển kinh tế nông thôn. Các hoạt động này được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của Đảng bộcộng đồng nông thôn.

2.2. Kết quả và thách thức

Sau 10 năm thực hiện, Chương trình nông thôn mới tại thành phố Tuyên Quang đã đạt được nhiều thành tựu nông thôn mới, bao gồm cải thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn, và văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức nông thôn mới như phát triển bền vững, quản lý nông thôn, và nâng cao đời sống người dân. Những thách thức này đòi hỏi sự tiếp tục nỗ lực của Đảng bộchính quyền địa phương.

III. Nhận xét và kinh nghiệm rút ra

Nghiên cứu đã chỉ ra những ưu điểmhạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Tuyên Quang. Ưu điểm bao gồm sự linh hoạt trong việc vận dụng các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt NamĐảng bộ tỉnh Tuyên Quang, cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng nông thôn. Hạn chế chủ yếu liên quan đến phát triển bền vữngquản lý nông thôn. Từ đó, nghiên cứu rút ra một số kinh nghiệm quan trọng để tiếp tục thực hiện Chương trình nông thôn mới trong tương lai.

3.1. Ưu điểm và hạn chế

Ưu điểm của quá trình lãnh đạo bao gồm sự linh hoạt trong việc vận dụng các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt NamĐảng bộ tỉnh Tuyên Quang, cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng nông thôn. Hạn chế chủ yếu liên quan đến phát triển bền vữngquản lý nông thôn, đặc biệt là trong việc đảm bảo chỉ tiêu nông thôn mớinâng cao đời sống người dân.

3.2. Kinh nghiệm và đề xuất

Từ quá trình nghiên cứu, một số kinh nghiệm quan trọng đã được rút ra, bao gồm việc tăng cường quản lý nông thôn, phát triển bền vững, và nâng cao năng lực cán bộ. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng để tiếp tục thực hiện Chương trình nông thôn mới tại thành phố Tuyên Quang và các địa phương khác trong tương lai.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn thành phố Tuyên Quang trước năm 2008 1. Điều kiện tự nhiên Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía nam tỉnh Tuyên Quang, cách Hà Nội khoảng 165 km theo Quốc lộ 2 và 130 km theo đường Sơn Nam, có vị trí địa lý: Phía nam giáp huyện Sơn Dương.

Các phía còn lại giáp huyện Yên Sơn. Thành phố Tuyên Quang có diện tích 184,38 km², dân số năm 2018 là 191.118 người, mật độ dân số đạt 1.037 người/km². Thành phố nằm hai bên bờ sông Lô, được che chắn bởi các dãy núi cao và xen kẽ nhiều đồi núi thấp. Độ cao trung bình dưới 500m và hướng thấp dần từ bắc xuống nam, độ dốc thấp dần dưới 25° [32].

Khí hậu của thành phố Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có 4 mùa rõ rệt, mùa đông nhiệt đới lạnh - khô hạn, mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều, mùa xuân và mùa thu ngắn, mang ý nghĩa chuyển tiếp giữa 2 mùa chính là đông và hè. Lượng mưa trung bình hằng năm đạt 1. Nhiệt độ trung bình 22°- 23 °C. Độ ẩm bình quân năm là 85%.

Thành phố Tuyên Quang là đầu mối giao thông trong tỉnh và liên tỉnh giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Việt Nam. Trên địa bàn có các tuyến quốc lộ và đường tỉnh chạy qua: Quốc lộ 2 dài 20km, nối Tuyên Quang với Hà Nội qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc về phía nam, với Hà Giang về phía bắc; Quốc lộ 37 dài 11km nối Tuyên Quang với Yên Bái và các tỉnh Tây Bắc; với Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và các tỉnh Đông Bắc; Quốc lộ 2C dài 9,1km; đường ĐT. Đường thủy có sông Lô, tàu lớn xuôi tới Việt Trì, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Mùa mưa, tàu nhỏ có thể ngược sông Lô lên đến thành 11 phố Hà Giang; hoặc ngược sông Gâm lên đến Chiêm Hóa.

rất thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh. Địa hình chủ yếu của thành phố Tuyên Quang là vùng đồi núi thấp, có độ cao từ 75 m - 200 m so với mực nước biển. Thành phố Tuyên Quang được bao bọc bởi dãy núi Dùm có đỉnh cao nhất 529 m ở phía đông bắc; dãy núi Là, đỉnh cao nhất 948 m ở phía tây bắc và phía đông nam là dãy núi Nghiêm, đỉnh cao nhất 482 m. Nguồn nước từ ba dãy núi cao đổ về sông Lô chảy ngang qua thành phố Tuyên Quang tạo thành hệ thống ngòi, suối, ao hồ tương đối dày, gồm suối Là, suối Chả, suối Thục, suối Kỳ Lãm, suối Yên Lĩnh, suối Thôn Thượng, hồ Tân Quang, hồ Cô Ve, hồ Trung Việt, hồ Kỳ Lãm.

Đặc biệt, có dòng sông Lô chảy qua trung tâm thành phố theo hướng bắc - nam (từ Ghềnh Gà đến Tân Tạo), dài gần 20km. Với nguồn tài nguyên: Có 9 điểm mỏ đá vôi ở Tràng Đà với tổng trữ lượng cấp P2: 783 triệu m3, chất lượng tốt, có khả năng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng quy mô lớn. Ngoài ra, còn có mỏ chì - kẽm. Sự ưu đãi của thiên nhiên đã mang lại sắc thái một đô thị đặc thù có rừng, có núi, có sông, có suối; tạo nét đặc sắc về kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và sự cân bằng về môi trường sinh thái cho thành phố Tuyên Quang.

Với vị trí địa lý quan trọng, tài nguyên, khi hậu như vậy địa bàn thành phố Tuyên Quang ngày nay đã sớm trở thành nơi tụ cư của người Kinh, Tày, Cao Lan. thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng … 1. Đặc điểm kinh tế, xã hội Trong quá trình lịch sử, thành phố Tuyên Quang luôn là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, là thủ phủ của một vùng "an biên" che chắn cho kinh đô Thăng Long về phía bắc. Sau năm 1954, thị xã Tuyên Quang có 3 phường: Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang.

Ngày 26/7/1968, chuyển 4 xã: Ỷ La, Hưng Thành, Nông Tiến, Tràng Đà thuộc huyện Yên Sơn về thị xã Tuyên Quang quản lý. Thị xã Tuyên Quang lúc này có 3 phường nội thị là Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang và 4 xã ngoại thị: Ỷ La, Hưng Thành, 12 Nông Tiến và Tràng Đà. Sau năm 1975, thị xã Tuyên Quang vẫn giữ nguyên tổ chức hành chính gồm 3 phường và 4 xã. Những năm 1975 - 1991, thị xã Tuyên Quang giữ vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tuyên (do hợp nhất 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang).

Ngày 12/8/1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, thị xã Tuyên Quang trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Quang. Năm 2008, thị xã Tuyên Quang được điều chỉnh địa giới hành chính, nhập thêm 5 xã: An Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn (thuộc huyện Yên Sơn); đồng thời, thành lập phường Ỷ La và phường Tân Hà trên cơ sở xã Ỷ La; nâng cấp hai xã Nông Tiến và Hưng Thành lên thành phường. Dân số thị xã đạt mức gần 100.000 người, tăng gần gấp 2 lần so với năm 1990 [32]. Ngày 25/6/2009, thị xã Tuyên Quang được công nhận là đô thị loại III.

Ngày 02/7/2010, thị xã Tuyên Quang chính thức trở thành thành phố Tuyên Quang. Thành phố Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 11. Dân cư của 5 xã nông thôn thành phố là 25.356 người, chiếm 4,4% so với dân cư thành phố (năm 2019). Thành phố Tuyên Quang có 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 3 dân tộc có số dân đông là dân tộc Kinh, dân tộc Tày và nhóm Cao Lan thuộc dân tộc Sán Chay.

Thành phố Tuyên Quang với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá - xã hội, đầu mối giao thông của tỉnh, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sau 5 năm thành lập, thành phố Tuyên Quang đã không ngừng phát triển, diện mạo đô thị ngày càng đổi thay khang trang và đẹp đẽ hơn. Đây là động lực quan trọng để thành phố tiếp tục phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, thành phố có tiềm năng về đất đai, nguồn nhân lực, hạ tầng đô thị được đầu tư xây dựng với điểm nhấn là cụm Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang gắn với Quảng trường Nguyễn Tất Thành và các thiết chế văn hóa; có các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch, dịch vụ.

Càng thuận lợi hơn 13 trong thời gian 2015 - 2018, tỉnh Tuyên Quang tích cực thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư một số dự án trên địa bàn thành phố; đặc biệt khi tuyến đường cao tốc đoạn Tuyên Quang - Phú Thọ nối vào đường cao tốc Côn Minh - Lào Cai - Hải Phòng được đầu tư xây dựng, thành phố Tuyên Quang sẽ kết nối với các trung tâm kinh tế, các tỉnh, thành phố. Đây chính là điều kiện rất thuận lợi để thành phố Tuyên Quang hội nhập và phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Tính đến đầu năm 2010, toàn thành phố có 28 hợp tác xã thủ công nghiệp, 391 doanh nghiệp đóng trên địa bàn (trong đó 56 công ty cổ phần, 257 công ty trách nhiệm hữu hạn, 78 doanh nghiệp tư nhân), tổng thu ngân sách nhà nước ước tính gần 160 tỷ đồng. Trên địa bàn thành phố còn có Khu Công nghiệp Long Bình An với quy mô 109 ha và 2 điểm công nghiệp tập trung tại phường Tân Hà và phường Nông Tiến cùng với một số khu đô thị đã và đang hình thành như khu đô thị Tân Bình (phường Nông Tiến), khu đô thị Tân Phát (phường Ỷ La), khu đô thị Minh Thanh (phường Tân Hà), khu đô thị Đông Sơn (phường Ỷ La và phường Hưng Thành).

Cùng với sự phát triển về kinh tế, tình hình văn hóa - xã hội của thành phố cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Giáo dục - đào tạo được quan tâm, chất lượng giáo dục được nâng cao, giữ vững thành quả phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến năm 2010, trung học cơ sở thành phố có 5/13 trường đạt chuẩn Quốc gia. Văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao có nhiều hoạt động sôi nổi phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Các lễ hội truyền thống được duy trì. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai sâu rộng; việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc được đẩy mạnh. Tỷ lệ gia đình văn hoá đạt 90,2% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 0,8%); tỷ lệ thôn, xóm, tổ dân phố văn hoá đạt 73,9% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 1,2%). 14 Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục được triển khai, đảm bảo các mục tiêu đề ra.

Lao động, việc làm và đời sống xã hội luôn được quan tâm. Thành phố Tuyên Quang là nơi có bề dày về lịch sử, văn hóa. Di tích thành cổ Tuyên Quang được xây dựng vào cuối XVI (thời Nhà Mạc), có cấu trúc theo kiểu hình vuông, tường thành dài 275 m, cao 3,5m, dày 0,8m. Tổng diện tích thành cổ là 75.

Ngoài thành là hào nước; gạch xây thành làm bằng thứ đất có quặng sắt rất rắn.Với địa hình và cấu trúc đó khiến cho thành có một vị trí phòng thủ lợi hại và là vị trí quân sự trọng yếu. Nơi đây đã được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử hào hùng của nhân dân Tuyên Quang. Di tích còn lại gồm có hai cổng thành ở phía tây và phía bắc cùng một số đoạn tường thành. Di tích Đền Hạ (phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang): Được xây dựng vào năm 1738, thời vua Lê Cảnh Hưng (thời Hậu Lê), thờ Mẫu thần.

Đền có mái đao cong duyên dáng với những biểu tượng rồng, phượng đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy. Các ngày lễ lớn được diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Khu đền in bóng bên dòng sông Lô, nơi có khúc sông uốn lượn hình rồng. Di tích mang đậm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo.

Hiện nay, trong đền còn có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bức tranh chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Đảng Bộ Tuyên Quang Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới 2008-2018 là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong quá trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2008-2018. Tài liệu này không chỉ phân tích các chính sách, chiến lược mà còn đánh giá hiệu quả thực tiễn của các hoạt động này, mang lại cái nhìn toàn diện về sự phát triển nông thôn tại địa phương. Độc giả sẽ được tiếp cận với những bài học kinh nghiệm quý báu, giúp hiểu rõ hơn về cách thức lãnh đạo và quản lý trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước và phát triển địa phương, bạn có thể khám phá thêm Luận án quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, hoặc Luận văn bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chất lượng tại các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng là một tài liệu đáng tham khảo để mở rộng kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực cụ thể. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn!