CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý đầu tư công Quản lý của Nhà nước đối với đầu tư trong lĩnh vực CNQP là bộ phận của quan lý Nhà nước về đầu tư công và đều tuân thủ Luật đầu tư, Luật NSNN. Tuy nhiên quản lý Nhà nước đối với đầu tư trong lĩnh vực CNQP đó là lĩnh vực có tính đặc thù, cho nên ngoài nguyên tắc chung của quản lý đầu tư công còn mang những đặc trưng riêng.
Những nghiên cứu trong nước về quản lý đầu tư công Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư công và quản lý Nhà nước về đầu tư công được tiếp cận từ các góc độ khác nhau nhằm giải quyết nhiệm vụ cụ thể của đề tài nghiên cứu đặt ra. - Lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư: + Theo Nguyễn Anh Tuấn (2010), việc lập kế hoạch cho đầu tư công trong thời gian qua ở các cấp chính quyền, các ngành còn nhiều hạn chế, thiếu thống nhất, do đó dẫn đến tình trạng phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần. Khi thực hiện dự án phải kéo dài, có dự án được phê duyệt nhưng không khả thi do không tính toán đầy đủ khả năng bố trí vốn, những lợi ích kinh tế xã hội của dự án mang lại. + Đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Đình Cung (2010), Nguyễn Ngọc Sơn và các cộng sự (2012) cho rằng, quy hoạch, kế hoạch đầu tư công chưa tính đến yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và việc lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư của địa phương, ngành là lập theo nhu cầu không tính toán đầu đủ khả năng thực hiện.
+ Hoàng Thị Chinh Thon và các cộng sự (2010) cho rằng, các địa phương cần quản lý tốt cơ cấu phân bổ ngân sách; điều đó ảnh hưởng tích cực đến cơ cấu của nền kinh tế. Tác giả khuyến nghị chính quyền các cấp cần đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư công. Cần xác định đầy đủ, đúng đắn nội dung kinh tế, xã hội, môi trường trong quy hoạch, kế hoạch đầu tư công. - Hiệu quả đầu tư: + Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Phong (2010), Lê Xuân Bá (2010), Nguyễn Trọng Thản (2012) đều chỉ ra những bất cập trong quản lý đầu tư.
6 công làm cho hiệu quả đầu tư không cao do nhiều nguyên nhân như: quy hoạch chất lượng thấp, đầu tư dàn trải, nguồn vốn đầu tư hạn chế lại phải phân bổ cho nhiều dự án trong cùng một lúc. Tình hình đó dẫn đến thiếu vốn đầu tư theo kế hoạch phải điều chỉnh dự án. + Theo nghiên cứu của Trần Văn (2013), hiệu quả đầu tư công phụ thuộc vào việc bố trí chi ngân sách cho các chương trình theo tiến độ phân kỳ vốn. + Cùng quan điểm trên, các nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2010), Vũ Như Thăng (2010), Phạm Văn Hùng và cộng sự (2012), Hoàng Ngọc Âu (2013) và Vũ Cương (2014) cho rằng việc phân bổ NSNN cho đầu tư công có nhiều sai phạm, bất cập.
Các chủ đầu tư bố trí vốn cho các dự án không đảm bảo tiến độ, còn sai mục đích, không đúng chế độ v.v - Triển khai thực hiện dự án đầu tư công: + Theo Nguyễn Minh Phong (2010) cho rằng chất lượng triển khai thực hiện các dự án đầu tư công còn thấp, tình trạng thất thoát vốn đầu tư công thường xuyên xảy ra ở nhiều dự án, dự án thường chậm tiến độ so với kế hoạch, điều chỉnh tăng vốn diễn ra phổ biến v. Trước tiên là do nguyên nhân về chính sách, pháp luật thiếu đồng bộ, không chặt chẽ, nhiều sơ hở dễ bị lợi dụng, chậm đổi mới, không theo kịp tình hình. Hơn nữa, các văn bản hướng dẫn thực hiện vừa yếu vừa thiếu. Việc theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện đầu tư các dự án công lỏng lẻo.
+ Nguyên nhân dẫn đến chất lượng thực hiện các dự án đầu tư công thấp, trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn và Lương Thanh Hà (2012) cũng chỉ ra ở cách lập ngân sách thiếu thống nhất giữa chi đầu tư xây dựng cơ bản với chi thường xuyên dẫn đến tình trạng các dự án đã hoàn chỉnh đầu tư cơ bản nhưng khi đưa vào sử dụng thiếu vốn trùng tu, bảo dưỡng do đó dự án không phát huy tác dụng. Cũng theo tác giả, một nguyên nhân quan trọng khác trong tổ chức thực hiện đầu tư công là công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ và các biện pháp thiết thực. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về đầu tư công và quản lý đầu tư công của một số tác giả trong nước trên đây trong giai đoạn 2010 - 2015 là giai đoạn tập trung đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước nói chung và đổi mới quản lý đầu tư công nói riêng. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về đầu tư công và quản lý đầu tư công tiếp cận ở những góc độ khác nhau nhưng mỗi chỗ dừng lại ở việc phân tích thực trạng và nguyên nhân hạn chế, yếu kém của công tác quản lý đầu tư công.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất, kiến nghị những phương thức, giải pháp, biện pháp khắc phục sửa chữa hạn chế, bất cập trong quản lý đầu tư công. Những nghiên cứu nước ngoài về đầu tư công George A. Larbi, (1999), đã hệ thống hóa lý luận về tiếp cận quản lý công mới trong vấn đề giải quyết những khủng hoảng của Nhà nước xảy ra. Với việc tăng cường triển khai 4 trụ cột căn bản về tính công khai, minh bạch, giải trình, tiên liệu và tăng cường sự tham gia của các cá nhân, tổ chức xã hội sẽ làm cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước hiệu quả hơn, NSNN và nguồn thu thuế của người dân được sử dụng hiệu quả hơn.
Đặc biệt, một số khu vực công sử dụng NSNN đầu tư vào dự án công có tính đặc thù và có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia được khuyến nghị cần từng bước được áp dụng bốn trụ cột, nhất là tính minh bạch, tính giải trình như lĩnh vực an ninh, CNQP. Bên cạnh đó, đầu tư bằng NSNN cũng được khuyến nghị thực hiện có trọng tâm trọng điểm, lựa chọn đầu tư theo sắp xếp thứ tự ưu tiên của chiến lược phát triển quốc gia, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và không đem lại kết quả thiết thực như hoạch định đề ra. Các công trình nghiên cứu liên quan đến công nghiệp quốc phòng và đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Trần Trung Tín, (1998), “Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế bảo vệ năm 1988, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả đã nghiên cứu và làm rõ lý luận về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên các nội dung cơ bản về khái niệm, đặc trưng, vai trò và các nhân tố tác động đến phát triển quan hệ, kết hợp kinh tế với quốc phòng. Tác giả cũng đánh giá thực trạng tình hình kết hợp kinh tế với quốc phòng của các đơn vị quân đội đóng quân trên các địa bàn chiến lược như vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, ven biển và hải đảo. Nghiên cứu cũng đã chỉ rõ những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong quy hoạch đầu tư, tổ chức triển khai và giám sát việc phát triển mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng. Một số định hướng và giải pháp đã được đề xuất nhằm tăng cường sự kết hợp kinh tế với quốc phòng trong tình hình mới của an ninh, quốc phòng của đất nước.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu của luận án chủ yếu áp dụng phương pháp định tính, thống kê, so sánh giữa các thời kỳ mà chưa áp dụng phương pháp định lượng nhằm đánh giá và ước lượng các tác động và mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng cũng như các nhân tố tác động ở mức độ nào. Nguyễn Bảo Long (2001), “Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước về nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng kỹ thuật của Bộ Quốc phòng”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân. Tác giả đã phân tích khung lý luận về cơ chế quản lý Nhà. 8 nước (QLNN) nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng kỹ thuật của Bộ Quốc phòng (VTTBKT quốc phòng), bao gồm: VTTBKT quốc phòng; nhập khẩu VTTBKT quốc phòng; đặc điểm, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLNN về VTTBKT quốc phòng.
Nghiên cứu cũng thực hiện phân tích sâu tình hình thực trạng cơ chế QLNN về VTTBKT quốc phòng Việt Nam trước năm 2000, rút ra 7 ưu điểm, 9 nhược điểm và 5 thách thức đặt ra cần giải quyết đối với cơ chế QLNN về VTTBKT quốc phòng Việt Nam trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất, phân tích 5 quan điểm cơ bản, 7 phương hướng, nội dung hoàn thiện cơ chế QLNN về VTTBKT quốc phòng và 10 biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu VTTBKT quốc phòng Việt Nam đến năm 2005. Bộ tư lệnh quân khu 3, (2003), “Kết hợp quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong Khu KTQP”, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng. Các tác giả đã nghiên cứu và phân tích rõ lý luận cơ bản về kết hợp quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong Khu KTQP.
Nghiên cứu thực hiện đánh giá và khảo sát thực trạng các khu KTQP trên phạm vi cả nước tính đến năm 2003. Qua đó phân tích kết quả và hạn chế trong phát triển các khu KTQP, tình hình đầu tư vào phát triển các khu KTQP. Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi và mục tiêu có nên kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển các khu KTQP mà chưa quan tâm phân tích tới quy trình quản lý đầu tư vào các khu KTQP và quản lý nguồn chi từ ngân sách đầu tư cho các khu KTQP. Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu áp dụng phương pháp định tính, thống kê, so sánh giữa các thời kỳ mà chưa áp dụng phương pháp định lượng nhằm đánh giá và ước lượng các tác động và mối quan hệ giữa quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế cũng như các nhân tố tác động ở mức độ nào.