Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu của đề tài Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực công nghiệp và quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp là vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu. Cũng đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nhà nước bằng pháp luật, về pháp luật lao động, quản lý lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Một số công trình, tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài về quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực, quản lý nhà nước về nguồn nhân lực công nghiệp nói riêng đã được công bố như: Sách “Quản lý và chiến lược nguồn nhân lực”, tái bản lần thứ 3 của tác giả Peter Boxall, Giáo sư Quản lý nguồn nhân lực, Đại học Auckland, New Zealand và John Purcell, Vương quốc Anh.
Tác giả nghiên cứu đã đưa ra những phân tích về (1) Kết nối giữa chiến lược và công tác quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp sản xuất; (2) Xác định những nguyên tắc chung trong quản lý công việc và người lao động; (3) Quản lý nguồn nhân lực và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Bài viết “Hội nhập kinh tế đem lại lợi ích gì cho Việt Nam và ASEAN” của ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc ILO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ông cho rằng, để đón được cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại, Việt Nam có bốn vấn đề trọng tâm phải giải quyết: (i) Ưu tiên thực hiện các biện pháp nâng cao năng suất lao động và chất lượng việc làm trong ngành nông nghiệp và đa dạng hóa công việc trong các ngành chế tạo mới. (ii) Cần 9 mở rộng độ bao phủ phúc lợi xã hội, trong đó có cơ chế bảo hiểm thất nghiệp trên toàn quốc.
(iii) Cần củng cố hệ thống đào tạo phát triển kỹ năng, tập trung cải thiện giáo dục trung học và đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với lao động có kỹ năng. (iv) Cần cải thiện công tác bảo vệ nhóm lao động di cư và các hệ thống phục vụ việc công nhận kỹ năng của họ. Bài viết “Hướng tới một mô hình quản trị nhân lực kiểu Châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu Kinh doanh quốc tế, ấn bản số 26, xuất bản Quý 1, 1995 của tác giả Chris Brewster, Quản trị nguồn nhân lực Châu âu, Trường Đại học quản lý, Đại học Cranfield, Vương quốc Anh. Bài viết đã đưa ra, so sánh các khái niệm khác nhau về Quản lý nguồn nhân lực của các nhà nghiên cứu khác nhau; đánh giá tác động của văn hóa và pháp lý đến quản lý nguồn nhân lực.
Bài viết “Giáo dục và dạy nghề ngày nay: thách thức và sự trả lời” của tác giả George Psacharopoulos (The world Bank, Washington, USA), (TS. Hoàng Ngọc Vinh đã dịch ra tiếng Việt Nam). Bài viết đã phân tích vai trò và sự tác động của giáo dục dạy nghề đối với sự phát triển của xã hội. Bài viết cũng luận giải và cho rằng các quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến muốn dùng vốn khai thác lao động giá rẻ ở các quốc gia kém phát triển và chuyển vốn tới nơi có giá trị lao động thớp hơn sẽ có lợi hơn là nhập khẩu lao độngnhưng đòi hỏi hai đặc trưng chủ yếu của người lao động: (i) phải có kinh nghiệm các quá trình sản xuất nào đó mà hãng sẽ thuê; (ii) người lao động phải là người dễ đào tạo để phục vụ cho những quá trình mới mà hãng sẽ thay đổi.
Do đó các quốc gia cần tạo ra một thị trường, nguồn lao động có chất lượng để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp. Bản tin tháng 9 năm 2014 do Văn phòng ILO tại Việt Nam thực hiện có bài viết “Lỗ hổng đào tạo – việc làm khiến chất lượng, năng suất lao động vốn thấp càng thêm tồi tệ”. Bài viết đánh giá chỉ có chưa đến một phần năm lực lượng lao động của Việt Nam được đào tạo chuyên môn, và những kỹ năng 10 mà hệ thống giáo dục trang bị cho người học thường không phù hợp với những kỹ năng mà thị trường lao động đòi hỏi. Bản tin cũng đưa ra nhận xét của Ông Gyorgy Sxiraczki, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam: “….
Để phát triển kỹ năng theo nhu cầu thị trường, Việt Nam cần tăng cường hợp tác với khối tư nhân cũng như đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp vào hệ thống giáo dục và đào tạo đồng thời đánh giá sự chênh lệch giữa kỹ năng hệ thống giáo dục và đào tạo trang bị cho người lao động với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai”. Báo cáo đầy đủ “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung” do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) – Văn phòng Khu vực Châu Á Thái Bình Dương - thực hiện đã nhận định dự báo cho Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2025 nhu cầu đối với lao động có trình độ kỹ năng ở mức trung bình sẽ tăng 28%, so với mức tăng 23% ở lao động có trình độ kỹ năng thấp và 13% cho lao động có kỹ năng cao. Do đó, Việt Nam cần đẩy mạnh các cơ sở đào tạo nghề và phát triển kỹ năng, nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở và đào tạo nghề cần phải dựa trên Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực 2011-2020 Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Chiến lược phát triển đào tạo nghề 2011-2020, Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, và Luật Dạy nghề. Bài tham luận “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Chính phủ Trung Quốc” của tác giả Xiao Mingzheng -Trường Đại học Bắc Kinh trình bày tại Hội thảo “Cải cách hành chính dành cho các nước châu Á” do Bộ Thương mại Trung Quốc tổ chức từ ngày 03/4 – 22/4/2008 (được tác giả Nguyễn Diệu Tú - Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh dịch và biên tập) đưa ra những phân tích và nhận định, đánh giá về Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển nguồn nhân lực: (1).
Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm nguồn 11 nhân lực là nguồn lực hàng đầu; (2). Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc”, “Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng một xã hội học tập; (3). Mở rộng đầu tư và làm theo nhiều biện pháp để phát triển nguồn nhân lực; (4). Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển nguồn nhân lực; (5).
Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường lao động, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng nguồn nhân lực tốt hơn; (6). Thành lập tổ chức phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sự ủng hộ và bảo đảm của chính phủ trong phát triển nguồn nhân lực. Báo cáo SCANS ở Mỹ (Secretery’s Commission for Achieving Necessary Skill’s, United States Department ò Labor, 1991) đánh giá tầm quan trọng của kỹ năng cốt lõi hơn là kỹ năng chuyên sâu. Năng lực của những người tham gia thị trường lao động được báo cáo nêu ra (theo thứ tự ưu tiên), gồm: (i) Khả năng để phân bổ thời gian, phát triển và lựa chọn các mục tiêu ưu tiên, phân bổ tiền và lập kế hoạch dự toán; (ii) Khả năng để xác định nhu cầu về dữ liệu, khai thác các phương tiện để có được thông tin, dữ liệu, tổ chức và lưu trữ chúng; (iii) Khả năng được tham gia với tư cách thành viên của nhóm, giao tiếp tốt với mọi người; (iv) Hiểu biết về hoạt động hệ thống xã hội, tổ chức, công nghệ và vận hành chúng; (v) Khả năng lựa chọn công nghệ và áp dụng vào nhiệm vụ cụ thể.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực sản xuất công nghiệp và yêu cầu, điều kiện ảnh hưởng và đảm bảo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là thông qua hệ thống đào tạo nghề. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây mới dừng lại ở nghiên cứu chung về nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô hoặc một số khía cạnh của phát triển nguồn nhân lực công nghiệp vì vậy nếu áp dụng cho nguồn nhân lực công nghiệp ở Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng sẽ rất khó phát huy được hiệu quả vì vậy tác giả xem đây như là nguồn 12 cung cấp tài liệu tham khảo, những ý tưởng mang tính định hướng gợi ý cho việc nghiên cứu của luận án này. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực công nghiệp ở Việt Nam trong nhiều năm qua đã được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm, nghiên cứu. Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của những nhà quản lý, nhà giáo, học viên.
quan tâm thực hiện và công bố giới thiệu trên các ấn phẩm và diễn đàn khoa học. Các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, sách chuyên khảo, nhiệm vụ cấp bộ, hội thảo khoa học, bài tạp chí, luận văn, luận án. nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp đến NNLCN và QLNN đối với NNLCN. Tuỳ từng góc độ tiếp cận và nghiên cứu, các công trình đã làm rõ nhiều nội dung về QLNN, xác định mức độ can thiệp của nhà nước vào các quan hệ xã hội trong đó có lĩnh vực NNL và NNLCN, bao gồm: (i) nghiên cứu về QLNN; (ii) nghiên cứu về NNL và NNLCN; (iii) nghiên cứu về lý luận và thực tiễn QLNN đối với NNLCN.
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước Các nghiên cứu đã làm rõ được những nội dung cơ bản như: cơ sở lý luận của quản lý xã hội của nhà nước; nội dung, phương thức QLNN. Trước tiên có thể liệt kê ra một số nghiên cứu có tính chất cơ sở.