Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam" tiếp cận chủ đề nghiên cứu từ góc độ khoa học quản lý công và khoa học quản lý hành chính nhà nước.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày ba luận cứ cơ bản:

  • Thứ nhất, công nghiệp công nghệ thông tin (CNCNTT) là ngành kinh tế tri thức có giá trị gia tăng cao, trong đó lĩnh vực phần mềm, nội dung số và dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) có thể đạt giá trị gia tăng từ 70% đến 90% doanh thu. Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, khả năng tiếp thu chuyên môn nhanh, cùng các cơ hội quốc tế khi đối tác Nhật Bản chọn Việt Nam là điểm đến cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT (ITO) chỉ sau Trung Quốc, song song với làn sóng chuyển dịch dịch vụ thuê ngoài quy trình nghiệp vụ kinh doanh (BPO) của các tập đoàn đa quốc gia. Mặc dù vậy, doanh thu thực tế của ngành tại Việt Nam chưa cao; nguồn thu chủ yếu phụ thuộc vào mảng phần cứng – điện tử với sự chi phối của các tập đoàn có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như Samsung, Intel, Nokia, Canon mang tính lắp ráp giá trị gia tăng thấp; trong khi đó lĩnh vực phần mềm và nội dung số có quy mô doanh nghiệp nhỏ, chịu sức ép cạnh tranh gay gắt.
  • Thứ hai, Đảng và Nhà nước xác định CNTT là công cụ tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc qua Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị; xác định hạ tầng thông tin là một trong mười hạ tầng chủ lực tại Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/1/2012; ban hành Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010; và gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo Thông báo kết luận số 264-TB/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) đối với ngành này chưa tương xứng với tiềm năng, chưa theo kịp tốc độ phát triển thực tế, hệ thống chính sách và văn bản pháp luật còn thiếu tính khả thi.
  • Thứ ba, khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống gắn liền với cơ sở khoa học lý luận về QLNN đối với ngành công nghiệp công nghệ cao này tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức độ mô tả hiện trạng hoặc lý giải rời rạc từng khía cạnh, thiếu phương pháp luận khoa học và thiếu số liệu cập nhật dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước và quản lý công.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu, bổ sung cơ sở khoa học về QLNN đối với CNCNTT; trên cơ sở đó phân tích thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện QLNN về CNCNTT tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Phân tích tổng quan một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến QLNN về CNCNTT trong và ngoài nước nhằm xác định các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
  2. Nghiên cứu, phân tích, bổ sung một số vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ sở khoa học QLNN về CNCNTT.
  3. Phân tích thực trạng công tác QLNN về CNCNTT tại Việt Nam, đối chiếu với thực trạng phát triển của ngành; rút ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong QLNN về CNCNTT.
  4. Trên cơ sở nghiên cứu xu hướng phát triển và kinh nghiệm QLNN về CNCNTT ở một số quốc gia, đề xuất phương hướng, giải pháp chung và cụ thể tiếp tục hoàn thiện QLNN về CNCNTT tại Việt Nam trong giai đoạn tới, tạo thuận lợi cho các hoạt động CNCNTT phát triển tốt, đem lại doanh thu cao.

Giả thuyết khoa học của luận án: CNCNTT ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ Tổ quốc. CNCNTT nước ta chưa tận dụng được cơ hội và lợi thế cạnh tranh, chưa phát huy hiệu quả các tiềm năng. QLNN về CNCNTT chưa theo kịp sự phát triển khiến cho CNCNTT nước ta chưa phát triển xứng với tiềm năng.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi chính:

  1. QLNN về CNCNTT có đặc điểm, nội dung gì? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến QLNN về CNCNTT, xu hướng của QLNN về CNCNTT?
  2. Thực trạng QLNN về CNCNTT như thế nào, kết quả, hạn chế, nguyên nhân? Vì sao QLNN về CNCNTT ở nước ta chưa theo kịp sự phát triển, chưa phát huy được vai trò, tạo điều kiện cho phát triển?
  3. Hoàn thiện nội dung QLNN về CNCNTT ở Việt Nam giai đoạn tới như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu là tổ chức và các hoạt động QLNN về CNCNTT tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Giới hạn trong các nội dung QLNN về CNCNTT (thể chế, tổ chức, đội ngũ, tài chính, kiểm tra giám sát), tập trung vào 4 khía cạnh trọng tâm gồm: xây dựng và thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình; xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); thanh tra kiểm tra; tổ chức bộ máy QLNN về CNCNTT trong phạm vi công nghiệp sản xuất phần cứng máy tính và phần mềm máy tính.
  • Về không gian: Nghiên cứu QLNN trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung vào công tác QLNN ở cấp Trung ương.
  • Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng giai đoạn 2009-2017; đề xuất định hướng giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm lớn: các công trình liên quan đến CNCNTT và các công trình liên quan đến QLNN về CNCNTT, phân chia theo phạm vi trong nước và quốc tế.

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình, năm công bố Nội dung chính và phát hiện
CNCNTT trong nước Trần Quý Nam (2012) Đề tài cấp Bộ nghiên cứu lý luận chính sách phát triển CNCNTT, xây dựng tiêu chí lựa chọn địa phương tiềm năng; hạn chế ở việc đánh giá nhân lực dựa trên số lượng học sinh phổ thông và giải pháp còn chung chung.
Nguyễn Anh Tuấn (2011) Đề tài cấp Bộ xác định doanh nghiệp giữ vai trò chủ lực, Nhà nước hỗ trợ cơ chế chính sách; kết hợp nguồn lực trong nước và FDI cho phần mềm, ưu tiên FDI cho phần cứng; hạn chế ở số liệu cũ.
Bài báo về FPT Software Phân tích bài học triển khai chuẩn CMMi tại FPT Software, rút ra 8 thực tiễn: cam kết lãnh đạo, chuẩn bị vốn, phát triển nhân lực, ngoại ngữ, quản lý tổ chức dự án, văn hóa chất lượng, công cụ, tư vấn chuyên nghiệp.
Nguyễn Trọng (2009) Báo cáo toàn cảnh CNTT-TT, khẳng định vị thế chiến lược của công nghiệp phần mềm và triển vọng Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia dẫn đầu về phần mềm và dịch vụ vào năm 2025.
Nguyễn Quang Hưng (2015) Phân tích xu hướng thiết bị di động, IoT, dữ liệu lớn (dự báo 44 nghìn tỷ Gbyte vào năm 2020) và yêu cầu doanh nghiệp ICT phải đầu tư R&D cùng danh mục bằng sáng chế.
Phạm Ngọc Dương (2013) Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chiến lược sản phẩm tại CMCSoft giai đoạn 2013-2015, đề xuất tăng cường R&D, đãi ngộ nhân tài, kiểm soát chất lượng và gắn kết marketing.
CNCNTT quốc tế H. Baetjer (1997) Phân tích phần mềm dưới góc độ tư bản (Software as capital), chỉ ra giá trị gia tăng nằm ở tri thức con người và vấn đề khan hiếm nhân lực phần mềm chất lượng cao.
Eran Carmel Đưa ra "Mô hình bầu dục" gồm 8 yếu tố xuất khẩu phần mềm thành công: chính sách chính phủ, nhân lực, lương bổng, chất lượng cuộc sống, kết nối, hạ tầng kỹ thuật, vốn đầu tư, đặc tính công nghiệp.
Gezinus J. Chứng minh các doanh nghiệp đổi mới không phải doanh nghiệp dẫn đầu mà là doanh nghiệp tốp sau; vai trò quyết định thuộc về quyết tâm tạo sự khác biệt hơn là nguồn lực bổ trợ.
LYY Lu, C Yang (2004) Nghiên cứu CNCNTT Đài Loan trong mô hình sản xuất OEM/ODM phần cứng, chỉ ra mối quan hệ tương quan tỷ lệ thuận giữa liên kết R&D với tiếp thị và chất lượng sản phẩm mới.
Imbs, Uean & Romain Wacziarg (2003) Xác lập mối quan hệ đường cong Kuznet hình chữ U ngược (Parabol lồi) giữa mức độ tập trung ngành và thu nhập quốc gia; ngưỡng chuyển từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa là 9.637 USD/người.
Dan Breznitz (2005) Phân tích ngành phần mềm và thiết kế vi mạch Đài Loan; chỉ ra liên kết giữa viện nghiên cứu nhà nước và khu vực tư nhân giúp phát triển sản xuất OEM và ODM.
Nhóm nghiên cứu thực tiễn Việt Nam John Gallaugher & Greg Stoller (2004) nghiên cứu Glass Egg Digital Media; Posco TJ Park Foundation phân tích FPT Software; Nguyen Quynh Mai (2006) khảo sát lập kế hoạch dự án phần mềm.
Nhóm nghiên cứu Châu Á và quốc tế J (2007) phân tích tính chất tụ cụm của 4 lĩnh vực CNTT tại Ấn Độ; Poh-Kam Wong (2002) phân tích khoảng cách số giữa 5 nước phát triển và 7 nước đang phát triển ở Châu Á.
QLNN về CNCNTT trong nước Trần Quý Nam (2010) Đề tài cấp Bộ khảo sát CNCNTT theo các lĩnh vực phần cứng, phần mềm, nội dung số, dịch vụ tại Việt Nam và một số nước; giải pháp đề xuất còn chung chung, thiếu cơ sở lý luận QLNN.
Nguyễn Anh Tuấn (2012); Trần Quý Nam (2013) Đánh giá hiện trạng sản phẩm phần cứng, điện tử thương hiệu Việt và cơ chế hỗ trợ nội dung số thuần Việt; chỉ ra sự chồng lấn giữa khái niệm nội dung số và phần mềm.
Ngô Tuấn Anh (2012); Hồ Tuấn (2009); Đào Thị Anh Thư (2003); Nguyễn Thị Việt Hà (2015) Các luận án nghiên cứu về mô hình làm việc nhóm tại doanh nghiệp CNTT (CMC, Tinh Vân), chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp, quản lý doanh nghiệp điện tử tin học và xuất khẩu CNTT-TT.
Nhật Hồng (2013) Hai bài báo phân tích kinh nghiệm Trung Quốc trong vận dụng 7 công cụ điều chỉnh vĩ mô, chính sách mua sắm chính phủ, tiếp cận vốn và phát triển khu CNTT-TT để thúc đẩy phần cứng, vi mạch.
Duong Nguyen Trong (2004) Báo cáo về phân loại sản phẩm, dịch vụ phần mềm và chính sách phát triển phần mềm tại Việt Nam; nội dung QLNN chủ yếu dừng ở mức khảo sát chính sách hiện hành.
QLNN về CNCNTT quốc tế Peter Evans (1995) Cuốn sách Embedded Autonomy, phân tích vai trò Nhà nước đối với ngành máy tính tại Brazil, Ấn Độ và Hàn Quốc; nhấn mạnh sự kết nối giữa Nhà nước và các tầng lớp xã hội.
Felix B. Tan (2002) Phân tích kinh nghiệm Phần Lan và New Zealand, chỉ ra 3 yếu tố thúc đẩy CNCNTT: quyết tâm cụ thể của chính phủ, năng lực R&D và hệ thống giáo dục cung cấp nhân lực.
Mingzhi Li, Ming Gao (2003) Nghiên cứu chiến lược phần mềm Trung Quốc so sánh với Ấn Độ; khuyến nghị Trung Quốc tập trung thị trường nội địa trong ngắn hạn và liên minh hợp tác quốc tế.
Shiu-Wan Hung (2009); Qiang W (2003); Tan & Leewongcharoen (2005) Phân tích khung chính sách đổi mới của Ấn Độ và Trung Quốc; chỉ ra 7 thách thức phát triển ICT tại Việt Nam; phân tích sự phụ thuộc FDI phần cứng nhưng thất bại R&D tại Thái Lan.
ACM (2006); Watkins (2012); Nguyễn Thanh Tuyền (2008) Khẳng định vai trò chính sách chính phủ tại Châu Á; bài học chính sách ICT tại Rwanda, Uganda, Zambia; nghiên cứu tại Monash University về ICT và phát triển bền vững ở Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trong và ngoài nước đã đề cập nhiều khía cạnh kỹ thuật, thị trường, doanh nghiệp hoặc một số chính sách riêng lẻ, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, chuyên sâu và có hệ thống về công tác QLNN đối với CNCNTT dưới giác độ khoa học quản lý công và hành chính nhà nước. Nhiều nghiên cứu trước thiếu cập nhật về số liệu thực tiễn và thiếu khung phân tích lý luận gắn với thực tiễn QLNN tại Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thiết lập hệ thống cơ sở khoa học, đánh giá thực trạng trên diện rộng và đề xuất giải pháp đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, nhân lực và thanh tra kiểm tra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các lý thuyết, khái niệm và phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Về khái niệm, luận án điểm lại các mốc pháp lý tại Việt Nam: Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ định nghĩa CNTT và CNCNTT theo phạm vi kỹ thuật máy tính và viễn thông; Luật Công nghệ thông tin năm 2006 xác định: "Công nghiệp công nghệ thông tin là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số". Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả giới hạn CNCNTT là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm CNTT gồm hai cấu phần: phần cứng máy tính và phần mềm máy tính.

Về khung lý thuyết phân tích, luận án dựa trên các nền tảng:

  • Lý thuyết hệ thống trong xem xét mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của QLNN và sự tương tác giữa khu vực công với khu vực tư.
  • Mô hình kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter (1990) về lợi thế cạnh tranh ngành, phân tích vai trò của chính sách Nhà nước tác động vào các yếu tố sản xuất, điều kiện nhu cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và cấu trúc cạnh tranh doanh nghiệp trong CNCNTT.
  • Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - QLCM) với các nguyên lý: tăng cường tính thị trường, chuyển giao thẩm quyền, quản lý chuyên nghiệp, sử dụng hợp đồng dịch vụ công, tinh gọn bộ máy hành chính, chuyển phương thức quản lý từ mệnh lệnh hành chính sang phục vụ và kiến tạo.

Khung nội dung QLNN tổng quát gồm 5 nhóm: hệ thống thể chế; hệ thống tổ chức và cơ chế vận hành; đội ngũ nhân lực quản lý; tài chính công; quá trình kiểm tra, đánh giá, giám sát. Luận án cụ thể hóa thành 6 nội dung chi tiết của QLNN về CNCNTT:

  1. Xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển CNCNTT.
  2. Xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện VBQPPL về CNCNTT.
  3. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực CNCNTT.
  4. Hợp tác quốc tế về CNCNTT.
  5. Tổ chức bộ máy QLNN về CNCNTT.
  6. Ban hành tiêu chuẩn chất lượng, quản lý an toàn an ninh thông tin, cấp phép chứng chỉ, quản lý đầu tư, phát triển nhân lực, cơ sở dữ liệu, thống kê và huy động hạ tầng cho an ninh quốc phòng.

Luận án lựa chọn 4 nội dung trọng tâm để đi sâu phân tích và đề xuất giải pháp: xây dựng và thực thi chiến lược - quy hoạch - kế hoạch - chương trình; xây dựng và thực thi VBQPPL; thanh tra kiểm tra; tổ chức bộ máy QLNN.

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý thuyết hệ thống.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng phân tích tài liệu sơ cấp (văn kiện của Đảng, VBQPPL, số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước) và tài liệu thứ cấp (bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo, báo cáo chuyên ngành). Tổng hợp tri thức từ phân tích văn bản và phỏng vấn chuyên gia.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Rà soát công tác QLNN giai đoạn 2009-2017 nhằm đúc rút kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của hoạt động sản xuất sản phẩm phần cứng, phần mềm và các chỉ số hoạt động QLNN; so sánh cơ chế QLNN của Việt Nam với một số quốc gia.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu qua khảo sát thực tế: Sử dụng mẫu phiếu điều tra thu thập thông tin doanh nghiệp CNTT (thông tin chung, doanh thu, nhân lực, hoạt động R&D, vướng mắc, kiến nghị với cơ quan nhà nước). Phiếu được Bộ Thông tin và Truyền thông gửi đến khoảng 500 doanh nghiệp CNTT trên toàn quốc để thu thập số liệu phục vụ phân tích.
  • Phương pháp chuyên gia: Xây dựng hệ thống câu hỏi tham vấn các chuyên gia thuộc 5 nhóm đối tượng: đại diện cơ quan QLNN về CNCNTT ở Trung ương; đại diện cơ quan QLNN ở địa phương; đại diện khối doanh nghiệp; đại diện khối đào tạo nhân lực CNTT; đại diện cơ quan QLNN về tổ chức bộ máy.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Bổ trợ lập luận khoa học và kết nối dữ liệu thực tế với các đề xuất giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến phát triển CNCNTT và QLNN đối với CNCNTT.

Về luận điểm và phát hiện chính:

  • Các nghiên cứu quốc tế đã phân tích nhiều khía cạnh đặc thù của công nghiệp phần mềm và phần cứng. Điển hình là quan điểm của H. Baetjer (1997) về vốn con người trong phần mềm; mô hình 8 yếu tố xuất khẩu phần mềm của Eran Carmel; nghiên cứu của Gezinus J. về vai trò đổi mới của các doanh nghiệp tốp sau; phân tích của LYY Lu và C Yang (2004) cùng Dan Breznitz (2005) về kinh nghiệm liên kết viện nghiên cứu - doanh nghiệp và mô hình OEM/ODM tại Đài Loan; quy luật U ngược của Imbs và Wacziarg (2003) với ngưỡng chuyển đổi 9.637 USD; các phân tích so sánh chiến lược phần cứng và phần mềm giữa Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil và Thái Lan.
  • Các công trình trong nước của Trần Quý Nam (2010, 2012, 2013), Nguyễn Anh Tuấn (2011, 2012), Nguyễn Trọng (2009), Nguyễn Quang Hưng (2015), cùng các luận án của Ngô Tuấn Anh (2012), Hồ Tuấn (2009), Đào Thị Anh Thư (2003), Nguyễn Thị Việt Hà (2015) đã bước đầu phác thảo hiện trạng sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi tổ chức và xuất khẩu sản phẩm CNTT.
  • Hạn chế chung của các nghiên cứu trước là: tài liệu chuyên sâu về QLNN đối với CNCNTT còn rất hiếm; số liệu thống kê thường bị phân tán hoặc lạc hậu; tiếp cận chủ yếu dưới góc độ kỹ thuật sản phẩm, thị trường hoặc chính sách vi mô rời rạc; chưa có công trình nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học quản lý công và hành chính nhà nước.

Chương 2. Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với công nghiệp công nghệ thông tin

Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận, làm rõ nội dung, vai trò, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng, cũng như xu hướng vận động của CNCNTT và công tác QLNN đối với ngành.

Về luận điểm và phát hiện chính:

  • Bản chất và đặc điểm của CNCNTT Việt Nam: Là ngành kinh tế tri thức công nghệ cao, tự động hóa cao ở khâu phần cứng và phân tán qua mạng ở khâu phần mềm; sản phẩm phần cứng có giá trị gia tăng nội địa thấp do chủ yếu gia công lắp ráp xuất khẩu cho các doanh nghiệp FDI; phần mềm chủ yếu là gia công theo đơn đặt hàng và cung ứng nội địa; quy mô doanh nghiệp đa số là nhỏ và vừa, đầu tư cho R&D rất hạn chế; nhân lực hội nhập nhanh nhưng thiếu hụt về số lượng và yếu về chất lượng chuyên môn.
  • Vai trò của QLNN: Tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định; thiết lập hành lang pháp luật; khắc phục khiếm khuyết của cơ chế thị trường (thông tin không đầy đủ, cạnh tranh không lành mạnh); định hướng và đầu tư dẫn dắt thông qua tài sản công và doanh nghiệp nhà nước; lựa chọn công cụ chính sách và bố trí nhân lực quản lý phù hợp.
  • Đặc điểm của QLNN về CNCNTT tại Việt Nam: Ngành mới hình thành hơn 10 năm nên hệ thống quản lý đang trong quá trình định hình; công nghệ biến đổi nhanh chóng (điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo) khiến công tác quản lý thường xuyên bị động; thể chế và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm chậm được cập nhật; định mức tài chính công thiếu vắng do tính chất "vô hình" của phần mềm; công tác thanh tra kiểm tra khó khăn do ranh giới mờ giữa phần cứng và phần mềm, sản xuất và dịch vụ; bộ máy quản lý còn mỏng, kiêm nhiệm và có sự chồng lấn chức năng giữa các cơ quan.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN: Sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ; môi trường chính trị; trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền; truyền thống văn hóa và nguồn nhân lực hiếu học; các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) và Hiệp định Công nghệ thông tin (ITA) về cắt giảm thuế quan.
  • Xu hướng phát triển công nghệ sản xuất sản phẩm CNTT: Luận án chỉ ra 8 xu hướng chính: (1) Số lượng người làm việc từ xa tăng đáng kể nhờ các công cụ trực tuyến; (2) Hợp tác làm việc nhóm trở thành trung tâm của văn hóa CNTT; (3) Tối ưu hóa trải nghiệm người dùng theo hướng đơn giản "pick up and play"; (4) Chuyển dịch sang cáp quang thay thế cáp xoắn; (5) Công nghệ không dây và thiết bị di động phổ biến; (6) Ứng dụng chuỗi khối (blockchain) trong xác thực và lưu trữ dữ liệu an toàn; (7) Công nghệ in 3D thay đổi phương thức tạo mẫu và chế tạo sản phẩm; (8) Tự động hóa sản xuất và lập trình bằng robot, song song với yêu cầu khắt khe về an toàn thông tin mạng.
  • Xu hướng đổi mới QLNN về CNCNTT theo mô hình Quản lý công mới (QLCM): Chuyển từ cơ chế hành chính quan liêu truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại với 6 định hướng:
    1. Hoạt động quản lý mang tính "năng động" và "thông minh" hơn thông qua ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn.
    2. Minh bạch hóa quy trình, tăng cường sự tham gia giám sát và phản biện chính sách của cộng đồng doanh nghiệp qua mạng Internet.
    3. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, cơ quan Trung ương tập trung vào chiến lược, quy hoạch và thể chế.
    4. Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng và kiểm định hợp chuẩn, chấm dứt việc cơ quan quản lý trực tiếp điều hành dự án thay nhà đầu tư.
    5. Chuyển phương thức từ quản lý hành chính sang phục vụ, huy động khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công hỗ trợ CNCNTT.
    6. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp nội địa (khởi nghiệp và doanh nghiệp quy mô lớn) về phát triển thị trường, ưu đãi đầu tư và cải cách thủ tục hành chính.

Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam

Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với CNCNTT tại Việt Nam giai đoạn 2009-2017.

Về luận điểm và nội dung đánh giá:

  • Phân tích thực trạng thực hiện 4 nội dung QLNN trọng tâm: công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình; công tác xây dựng, ban hành và thực thi văn bản quy phạm pháp luật; hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; và mô hình tổ chức bộ máy QLNN từ Trung ương đến địa phương.
  • Sử dụng nguồn số liệu thống kê chính thức kết hợp dữ liệu điều tra thực tế từ phiếu thu thập thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông gửi tới khoảng 500 doanh nghiệp CNTT trên phạm vi cả nước để đối chiếu giữa khung khổ chính sách và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (doanh thu, quy mô nhân lực, hoạt động đầu tư R&D).
  • Đánh giá vai trò điều phối giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương: Bộ Thông tin và Truyền thông giữ vai trò đầu mối chủ quản, phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch; và cấp địa phương là Sở Thông tin và Truyền thông.
  • Luận án chỉ rõ các kết quả đạt được, đồng thời nhận diện những tồn tại, hạn chế: sự thiếu đồng bộ của văn bản pháp lý, rào cản tài chính công trong định giá sản phẩm phần mềm, những bất cập trong tổ chức thanh tra do thiếu công cụ chuyên dụng, và sự chồng lấn chức năng giữa các bộ, ngành.

Chương 4. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm, phương hướng và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với CNCNTT tại Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.

Về luận điểm và định hướng giải pháp:

  • Xác lập các phương hướng hoàn thiện QLNN dựa trên định hướng phát triển kinh tế tri thức của Đảng, các cam kết quốc tế và nguyên lý Quản lý công mới (QLCM).
  • Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ tập trung vào 4 trụ cột nghiên cứu:
    1. Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác xây dựng và thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển CNCNTT bảo đảm tính khả thi, phân bổ nguồn lực rõ ràng và gắn với trách nhiệm của từng đầu mối.
    2. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống VBQPPL, tập trung ban hành các cơ chế ưu đãi cụ thể, tháo gỡ vướng mắc về tài chính công, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và phương pháp định giá phần mềm.
    3. Nhóm giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, trang bị công cụ kỹ thuật kiểm tra và phân định rõ ranh giới pháp lý đối với sản phẩm công nghệ mới.
    4. Nhóm giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức QLNN, xử lý triệt để sự chồng lấn thẩm quyền giữa các bộ ngành, đẩy mạnh phân cấp quản lý cho địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học về QLNN đối với CNCNTT dưới giác độ khoa học quản lý công và hành chính nhà nước, làm sáng tỏ bản chất của hoạt động QLNN đối với một ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao mang tính đặc thù.
  • Vận dụng lý thuyết hệ thống, mô hình kim cương của Michael E. Porter về lợi thế cạnh tranh ngành và lý thuyết Quản lý công mới (QLCM) để xác lập khung phân tích toàn diện gồm 5 cấu phần tổng quát và 6 nội dung QLNN chi tiết trong lĩnh vực CNCNTT.
  • Phân tích và làm rõ các đặc điểm đặc thù, các yếu tố tác động và hệ thống hóa 8 xu hướng công nghệ sản xuất cùng 6 xu hướng đổi mới phương thức QLNN về CNCNTT.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng có căn cứ khoa học về tổ chức và hoạt động QLNN đối với CNCNTT tại Việt Nam giai đoạn 2009-2017 thông qua dữ liệu điều tra thực tế từ khoảng 500 doanh nghiệp của Bộ Thông tin và Truyền thông và tham vấn ý kiến chuyên gia đa ngành.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn thực tiễn: sự chồng lấn thẩm quyền QLNN (giữa Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ trong vấn đề bản quyền phần mềm; giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công thương trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng); sự thiếu hụt định mức kinh tế kỹ thuật định giá phần mềm trong chi tiêu công; sự chậm trễ trong ban hành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
  • Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp có tính khả thi đến năm 2020 và tầm nhìn 2025, làm cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả QLNN ngành CNCNTT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi nội dung QLNN tập trung vào 4 cấu phần trọng tâm (chiến lược/quy hoạch/kế hoạch/chương trình; văn bản quy phạm pháp luật; thanh tra kiểm tra; tổ chức bộ máy), chưa bao quát chi tiết toàn bộ các mảng quản lý chuyên sâu khác như quy trình cấp chứng chỉ hành nghề hay các khía cạnh an toàn thông tin chuyên biệt.
  • Phạm vi đối tượng sản phẩm được thu hẹp trong ranh giới sản xuất phần cứng máy tính và phần mềm máy tính, chưa đi sâu vào toàn bộ lĩnh vực nội dung số và các thiết bị điện tử gia dụng.
  • Về phạm vi không gian và thời gian, luận án tập trung chủ yếu vào cấp quản lý Trung ương; nguồn số liệu khảo sát thực trạng dừng lại ở mốc thời gian năm 2017.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá hoạt động QLNN về CNCNTT tại các địa phương cụ thể sau khi thực hiện phân cấp, phân quyền theo mô hình Quản lý công mới.
  • Nghiên cứu sâu về các cơ chế tài chính công đặc thù, phương pháp luận xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và định giá các sản phẩm phần mềm, dịch vụ số mới phát sinh trong bối cảnh công nghệ thay đổi.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng các Sở Thông tin và Truyền thông trong việc rà soát thẩm quyền, sửa đổi các văn bản pháp luật, xây dựng chiến lược phát triển ngành và hoàn thiện quy trình thanh tra kiểm tra.
  • Đối với các cơ sở đào tạo, giảng viên và nghiên cứu sinh: Luận án cung cấp khung lý thuyết và nguồn tư liệu thực tế phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành quản lý công, quản lý hành chính nhà nước, chính sách công và kinh tế công nghệ thông tin.
  • Đối với các doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề CNTT: Là tài liệu tham khảo để nắm bắt định hướng chính sách quản lý của Nhà nước, từ đó chủ động xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm, đầu tư R&D và tham gia phản biện chính sách.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án giới hạn phạm vi ngành công nghiệp công nghệ thông tin như thế nào? Theo văn bản, mặc dù Luật CNTT năm 2006 quy định CNCNTT gồm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào hoạt động sản xuất sản phẩm phần cứng máy tính và phần mềm máy tính.

  2. Khảo sát thực tế của luận án được thực hiện với quy mô mẫu ra sao và tập trung vào những nội dung nào? Mẫu khảo sát của luận án được thực hiện thông qua phiếu thu thập thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông gửi đến khoảng 500 doanh nghiệp CNTT trên toàn quốc. Nội dung phiếu bao gồm: thông tin chung về doanh nghiệp, kết quả hoạt động (doanh thu, nhân lực, hoạt động R&D), cùng các vướng mắc và kiến nghị đối với cơ quan nhà nước.

  3. Luận án chỉ ra sự chồng lấn chức năng quản lý nhà nước về CNCNTT giữa những cơ quan nào ở cấp Trung ương? Văn bản phản ánh sự chồng lấn chức năng giữa Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc quản lý bản quyền phần mềm; đồng thời có sự chồng lấn giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công thương trong công tác quản lý công nghiệp phần cứng.

  4. Vì sao công tác định giá tài chính công và thanh tra kiểm tra đối với sản phẩm phần mềm gặp khó khăn? Theo luận án, sản phẩm phần mềm là sản phẩm vô hình, các quy định định mức kinh tế kỹ thuật định giá chưa được ban hành đầy đủ nên cơ quan quản lý vẫn phải vận dụng quy định từ lĩnh vực đầu tư xây dựng. Trong thanh tra kiểm tra, các khái niệm truyền thống bị thay đổi (như ranh giới giữa phần cứng và phần mềm, giữa sản xuất và dịch vụ phần mềm) và cơ quan quản lý thiếu các công cụ kỹ thuật hỗ trợ.

  5. Luận án xác định các yếu tố nào của mô hình Quản lý công mới cần vận dụng vào QLNN về CNCNTT? Mô hình Quản lý công mới được vận dụng với 6 xu hướng: tăng tính năng động và ứng dụng dữ liệu phân tích thông minh; tăng cường tính minh bạch và sự phản biện của doanh nghiệp qua mạng; phân cấp mạnh mẽ cho địa phương; chuyển trọng tâm vào tạo lập hành lang pháp lý, tiêu chuẩn và kiểm thử chất lượng thay vì trực tiếp quản lý dự án; chuyển từ quản lý hành chính sang phục vụ với sự tham gia của khu vực tư nhân; và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nội địa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam" đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng việc tiếp cận ngành CNCNTT một cách có hệ thống dưới giác độ khoa học quản lý công và hành chính nhà nước. Tác giả đã xác lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên lý thuyết hệ thống, mô hình kim cương của Michael E. Porter và nguyên lý Quản lý công mới, đồng thời phân tích thực tiễn thông qua số liệu sơ cấp, tham vấn chuyên gia và khảo sát khoảng 500 doanh nghiệp CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ những vướng mắc cốt lõi về thể chế, sự chồng lấn chức năng quản lý và những thách thức trong định mức tài chính công đối với sản phẩm phần mềm, từ đó xác lập luận cứ khoa học cho các định hướng giải pháp hoàn thiện QLNN về CNCNTT tại Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2025. Công trình là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin.