Chương 1 cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về công tác thanh niên; Chương 2 thực trạng quản lý nhà nước về công tác thanh niên tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay; Chương 3 giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về công tác thanh niên ở Lào Cai hiện nay. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN 1. Các khái niệm liên quan đến luận văn 1. Thanh niên Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách.
Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. - "Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành" [42, tr. Khái niệm này bao gồm 2 ý: Thanh niên là người có độ tuổi còn trẻ và đang trưởng thành. - "Thanh niên là một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội” [16, tr.14] khái niệm này đánh giá thanh niên ở diện rộng hơn, đánh giá cao vai trò của thanh niên.
- Theo Luật Thanh niên “Thanh niên Việt Nam là những người đủ 16 đến 30 tuổi” [20, tr. - Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi, chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác. Thứ nhất: Thanh niên được nhìn nhận dưới góc độ tuổi, theo Điều lệ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tuổi của đoàn viên được xác định là từ 15 đến 30 [37, tr.1]; Điều lệ Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam lại xác định tuổi hội viên là từ 15 đến 35 [38, tr. Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em xác định tuổi trẻ em đến 16 tuổi.
Tuy không lấy độ tuổi đoàn viên, hội viên làm 9 căn cứ để xác định tuổi thanh niên, nhưng ít nhiều, độ tuổi đoàn viên, hội viên do Đoàn, Hội xác định cũng phản ánh ở trình độ nhất định sự phát triển của con người trong giai đoạn thanh niên. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16.
Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40 (xem bảng 1.1: Độ tuổi thanh niên một số nước trên thế giới Tên nƣớc Độ tuổi Tên nƣớc Độ tuổi Au-stra-lia 15-25 Papua New Guinea 12-35 Băng-la-đét 15-30 Philipines 15-30 Bru-nây 15-25 Hàn Quốc 9-24 Trung Quốc 14-28 Sa-moa 15-35 Ấn Độ 13-35 Singapore 15-29 Ma-lay-xia 15-40 Sri-lan-ca 15-24 Man-đi-vơ 16-35 Thái Lan 15-24 Niu-di-lân 15-24 Tông-ga 12-25 Pa-ki-xtăng 15-29 Liên hiệp quốc 15-24 Nguồn Trung ương Đoàn thanh niên Việt Nam [35, tr. Tại Việt Nam, nếu tuổi thanh niên được xác định là tuổi tiếp nối tuổi trẻ em (16 tuổi) thì tuổi cận trên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến đề nghị để ở mức 24 tuổi (như quy định về tuổi thanh niên của Liên hiệp quốc), cũng có ý kiến đề nghị để tuổi cận trên của thanh niên là 35 tuổi vì ở tuổi này thanh niên mới thực sự trưởng thành, tự lập, tự quyết và có đóng góp nhiều nhất cho xã hội. Tuy nhiên, xét theo góc độ quản lý, thực thi các chính sách, 10 luật pháp cũng như góc độ hôn nhân, gia đình thì tuổi cận trên của thanh niên nên dừng lại ở mức đủ 30 tuổi.
Thứ hai: Đứng ở góc độ chính sách, luật pháp, nếu nâng độ tuổi thanh niên lên tới 35 tuổi thì đối tượng điều chỉnh của chính sách, luật pháp sẽ tăng đáng kể (khoảng 7,7% dân số hay hơn 6 triệu người). Nếu là chính sách đầu tư, thì đây quả là một con số không nhỏ về nguồn lực. Vả lại, khoảng cách tuổi giữa cận trên và cận dưới của thanh niên quá xa, dẫn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ như nhau đối với hai độ tuổi khác xa nhau (16 và 35) trong cùng một lúc là khó khăn và bất bình đẳng. Có khi ngay trong một gia đình, bố mẹ và các con đều phải chịu sự điều chỉnh của một chính sách, pháp luật với quyền và nghĩa vụ như nhau, trong khi các con có khi cần thiết được hưởng nhiều quyền hơn thay vì phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như cha mẹ.
Thứ ba: Xét ở góc độ hôn nhân, gia đình, theo quan niệm chung, tuổi thanh niên kéo dài từ lúc trưởng thành (từ tuổi dậy thì) cho đến lúc có vợ hoặc có chồng. Tuy không thể lấy tiêu chí kết hôn để xác định tuổi thanh niên, nhưng khi tuổi kết hôn trung bình lần đầu của dân số nữ và nam ở Việt Nam tăng dần hiện nay (tương ứng là 22,8 tuổi với nữ và 26 tuổi với nam, tính trung bình là 24-25 tuổi) [32, tr.29] thì việc xác định tuổi cận trên của thanh niên dưới 30 tuổi là có cơ sở thực tiễn, phù hợp với quan niệm văn hóa truyền thống và lối sống thực tế cũng như xu hướng kết hôn muộn của thanh niên hiện nay. Thứ tư: Đối với các nhà chính trị, thanh niên được hiểu là lực lượng hậu bị của các lực lượng chính trị. Tương lai chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc tùy thuộc vào việc giai cấp hay lực lượng chính trị nào nắm được thanh niên.
Cũng chính vì vai trò chính trị quan trọng của mình, thanh niên luôn luôn là đối tượng của sự lôi kéo, tranh giành, tác động, tập hợp của các đảng 11 chính trị. Tại Việt Nam, Đảng ta luôn coi công tác đoàn kết, tập hợp, giáo dục thanh niên đi theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là công tác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đồng thời, xác định việc xây dựng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng, là một trong các nhân tố đảm bảo sự phát triển của Đảng và cách mạng Việt Nam. Từ những phân tích và cách nhìn nhận trên đây, có thể rút ra kết luận: Thanh niên là một khái niệm, chỉ một nhóm nhân khẩu, xã hội đặc thù, ở độ tuổi nhất định (từ 16 đến 30 tuổi), có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, có những đặc điểm chung đặc trưng về tâm lý, nhận thức xã hội, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai. Với khái niệm này, có thể chỉ ra một số đặc điểm của thanh niên như sau: - Thanh niên không phải là một giai cấp mà là một nhóm nhân khẩu, xã hội; có độ tuổi nhất định, từ 16 đến 30 tuổi; có những đặc điểm đặc trưng khác với các lứa tuổi khác về tâm lý, sinh lý; có tâm tư, nguyện vọng, có nhu cầu và hoài bão, khát vọng phù hợp với lứa tuổi và giới.
- Thanh niên có mặt trong tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội: thanh niên nông dân, thanh niên công nhân, thanh niên viên chức, thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên các lực lượng vũ trang; có mặt trong tất cả 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam. - Thanh niên có mặt và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Công tác thanh niên và quản lý nhà nước về công tác thanh niên 1.1 Công tác thanh niên Theo Từ điển Tiếng Việt thì công tác được hiểu là “công việc của Nhà nước, của đoàn thể hoặc thực hiện công việc của Nhà nước, của đoàn thể” 12 [42, tr. Như vậy dưới góc độ là danh từ công tác thanh niên có thể được hiểu là công việc của Nhà nước, của đoàn thể; dưới góc độ là tính từ, công tác thanh niên được hiểu là thực hiện công việc của Nhà nước, đoàn thể.
Theo Thuật ngữ công tác Đoàn: “Công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng của Đảng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước và các chủ thể xã hội khác” [16, tr. Theo Nghị định số 120/2007/NĐ-CP, ngày 23/7/2007 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên, "Công tác thanh niên" là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [4, tr. Như vậy công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đoàn thanh niên và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành, phát huy mọi tiềm năng của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, cũng có thể hiểu, công tác thanh niên là sự tác động tổng hợp của các chủ thể xã hội vào một đối tượng cụ thể là thanh niên theo những mục tiêu xác định.
Từ những phân tích trên đây, công tác thanh niên được hiểu là hoạt động có mục đích của tổ chức tác động vào đối tượng thanh niên nhằm giáo dục, bồi dưỡng, định hướng và phát huy thanh niên, đáp ứng những đòi hỏi nào đó của thanh niên và của xã hôi. Công tác thanh niên là một loại hoạt động xã hội hàm chứa sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội và thanh niên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội.