CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở 1. Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở Thuật ngữ "chính trị" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại “politika”, có nghĩa là “công việc nhà nước” hay “những công việc xã hội”. Trong tiếng Hán cổ đại, “chính trị” nghĩa là “chính sách quốc gia”, “công việc trị quốc”.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều các cách hiểu khác nhau về khái niệm chính trị như: nghệ thuật của phép cai trị; những công việc của chung; sự thỏa hiệp và đồng thuận; quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích… Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các mối quan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn xã hội. Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị. Thực chất, chính trị là mối quan hệ, sự tương tác giữa chủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong xã hội với quyền lực chi phối chứa đựng bên trong đó, quyền lực chung (quyền lực xã hội), gọi là quyền lực chính trị. Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.
Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, thực chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ chính quyền và sử dụng quyền lực nhà nước. Tất nhiên, chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nhà nước. Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì còn hàng loạt vấn đề chung khác cần giải quyết như các vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, các phương án giải quyết các vấn đề chung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớp nắm quyền. Vì vậy, bên cạnh nhà nước trong xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị khác [6, tr.
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, có quá trình ra đời, tồn tại và mất đi. Chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước, nhưng không phải khi chính trị xuất hiện thì khái niệm HTCT cũng xuất hiện. Khái niệm HTCT ra đời sau khái niệm chính trị. Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và phương Tây trước Mác chưa có khái niệm HTCT.
Cả Mác, Ăngghen, Lênin vẫn chưa dùng khái niệm HTCT. Tuy nhiên, những nội dung về HTCT đã được Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu chính 8 trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng… Sau Mác, sớm hơn là ở các nước phương Tây, tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của thế kỷ XX) và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm HTCT. Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) để thay thế cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” vẫn được dùng trước đây. Đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng.
Từ đó đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng một cách thường xuyên và rộng rãi. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 khẳng định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” [23, tr.145] bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, do đó bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam chính là một hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa.177-178] Từ năm 1991 cho đến nay, thuật ngữ HTCT, HTCT XHCN ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nước ta trong những văn kiện, sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính trị. Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [15, tr. Phan Xuân Sơn lại cho rằng: “Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội,…) được xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành trên những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị” [32, tr.
Theo Từ điển Luật học của Viện pháp lý - Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phối hợp ban hành: “Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước, đảng phái, đoàn thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chi phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội”. Các tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ 9 thống các tổ chức chính trị - xã hội, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ nghĩa)” [30, tr. Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [74, tr. Kế thừa nhiều giá trị từ các quan niệm trên, theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.
HTCT là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội, bao gồm các đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì, phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của các giai cấp. HTCT xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các giai cấp, nhà nước. Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp. Trong các nước phát triển theo con đường XHCN, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của HTCT [6, tr.
HTCT được coi là cách thức tổ chức quyền lực chính trị mà giai cấp nắm quyền thực hiện phù hợp với lợi ích của mình. Quyền lực chính trị được coi là vấn đề quan trọng nhất. “Vấn đề lớn nhất mà qua mọi thời đại đã quấy nhiễu loài người, đã đem lại cho loài người phần lớn nhất những tổn thương, đã làm tàn lụi các đô thị, làm trống trải các quốc gia, phá vỡ sự ổn định của hòa bình thế giới không phải là vấn đề có hay không có quyền lực, nó từ đâu tới mà là vấn đề ai có nó” [48]. HTCT luôn phản ánh những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước.
Ở mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, khi những điều kiện kinh tế, chính trị, văn 10 hóa, xã hội,… có sự thay đổi thì HTCT cũng thay đổi. Trong HTCT, có thể xuất hiện thêm những tổ chức chính trị - xã hội mới và cũng có thể mất đi một số tổ chức cũ, đồng thời cũng có sự thay đổi trong bản thân mỗi tổ chức. Ngược lại, HTCT cũng tác động, ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Ngoài ra, HTCT của mỗi nước còn chịu ảnh hưởng của môi trường quốc tế và cũng ảnh hưởng tới đời sống chính trị quốc tế.
Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới hiện nay, HTCT gồm hai thành phần cơ bản là nhà nước và các chính đảng (đảng chính trị). Khác với HTCT ở các nước tư bản chủ nghĩa, HTCT ở các nước XHCN trước đây và HTCT ở Việt Nam hiện nay, ngoài nhà nước và các chính đảng, còn có một số tổ chức chính trị - xã hội đặc biệt khác, được thành lập để thực hiện các hoạt động chính trị đặc biệt. Các tổ chức chính trị đặc biệt này ngoài các hoạt động chính trị là chủ yếu còn thực hiện các chức năng xã hội khác nhưng đó không phải chức năng chủ yếu [6, tr. HTCT XHCN là toàn bộ các thiết chế chính trị, chính trị - xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ mà vai trò xã hội thuộc về đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân, xây dựng thành công CNXH.
Trong CNXH, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của HTCT XHCN. HTCT ở Việt Nam hiện nay lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động.