Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng trong xây dựng lực lƣợng vũ trang địa phƣơng từ năm 1945 đến năm 1949 Chương 3: Lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng lực lƣợng vũ trang địa phƣơng từ năm 1950 đến năm 1954 Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử 6 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), các hội thảo khoa học nghiên cứu về LLVT ba thứ quân của Việt Nam dƣới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau đƣợc tổ chức. Hiện nay, nhiều cuốn sách đã xuất bản, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc công bố về vấn đề: tổng kết lịch sử chiến tranh, lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng LLVT trong kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam nói chung và tỉnh Hải Dƣơng nói riêng. Các nhóm công trình nghiên cứu 1. Nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến xây dựng lực lượng vũ trang địa phương Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập III (1945-1954), do Bộ Quốc Phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam chủ trì nghiên cứu biên soạn, NXB QĐND ấn hành năm 2009 đã trình bày quá trình diễn biến, các quy luật, những kinh nghiệm phong phú, quý báu của cuộc kháng chiến, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Qua việc phản ánh khá toàn diện cuộc CTND của dân tộc Viê ̣t Nam , tác phẩm đề cập sơ lƣợc đến công tác xây dựng LLVTND nói chung, LLVTĐP nói riêng của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp - thắng lợi và bài học do Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị nghiên cứu, biên soạn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Đây là một bản tổng kết sâu sắc thắng lợi của toàn quân, toàn dân ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tƣ lệnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Công trình đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến của Đảng, đồng thời thẳng thắn thừa nhận một số thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến.
Tác phẩm Sự nghiệp và tư tưởng Quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, do Bộ Quốc phòng, Viện lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, NXB QĐND ấn hành năm 1990 là một công trình khoa học đƣợc biên soạn công phu, nghiêm túc với nhiều tƣ liệu quý, tái hiện những hoạt động lý luận và thực tiễn quân sự trong cuộc đời cách mạng vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam. Tƣ tƣởng quân sự của Hồ Chí Minh là cơ sở đƣờng lối quân sự của Đảng, phản ánh những vấn đề có tính quy luật trong cuộc đấu tranh vũ trang và xây dựng LLVT cách mạng ở một nƣớc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc. Nội dung cơ bản của tƣ tƣởng quân sự Hồ 7 z Chí Minh là tƣ tƣởng của CTND Việt Nam trong thời đại mới: “toàn dân đánh giặc có lực lƣợng vũ trang làm nòng cốt, lấy nhỏ thắng lớn, lấy chất lƣợng cao thắng số đông, lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn, kiên quyết không ngừng thế tiến công, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân thù trong thời đại mới” [28, tr. Tác phẩm Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975) do Viện lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, NXB QĐND, Hà Nội, 1997.
Đây là công trình nghiên cứu về vai trò to lớn của các vùng hậu phƣơng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Với đóng góp to lớn về sức ngƣời, sức của và sự động viên to lớn về tinh thần của nhân dân đối với tiền tuyến, công trình khẳng định hậu phƣơng đã trở thành nhân tố thƣờng xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Trong hai cuộc chiến tranh hiện đại của Việt Nam, hậu phƣơng đƣợc tổ chức chặt chẽ theo một đƣờng lối đúng đắn, sáng tạo, bằng những biện pháp có hiệu quả. Việc giải quyết thành công những vấn đề của hậu phƣơng trong hai cuộc kháng chiến đã giải thích tại sao LLVTND Việt Nam có thể đánh thắng hai đế quốc lớn, có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự và khoa học công nghệ mạnh hơn rất nhiều.
Cuốn Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tập 1(1944-1954), NXB QĐND, Hà Nội, 1995, viết về ngành hậu cần quân đội trong kháng chiến chống Pháp. Trong 10 năm (từ 1944 đến 1954), đƣợc thành lập từ con số 0, QĐND Việt Nam phải đối mặt với những lực lƣợng quân sự mạnh trên thế giới nhƣ quân đội đế quốc Nhật Bản, sau đó là quân đội Pháp. Để đƣơng đầu với những lực lƣợng quân sự mạnh đòi hỏi Đảng và chính phủ phải xây dựng và phát triển quân đội về mọi mặt. Từ đó, yêu cầu về mặt công tác hậu cần ngày càng đƣợc đề cao.
Trải qua cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chống thực dân Pháp xâm lƣợc, hàng triệu tấn quân lƣơng, quân giới, quân trang, quân dụng đƣợc mua bán hoặc tập trung, tiếp tế cho quân đội, Những tƣ liệu dẫn chứng, số liệu về mặt hậu cần trong tác phẩm giúp cho NCS thấy rõ sự phát triển về thế và lực của LLVT nói chung và LLVTĐP nói riêng. Cuốn Lịch sử quân nhu Quân đội Nhân dân Việt Nam (1944-1975), NXB QĐND, Hà Nội, 1998, nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của ngành quân nhu quân đội - một mặt công tác hậu cần gồm tổng thể các hoạt động sản xuất tạo nguồn và bảo đảm ăn, mặc cho LLVT, quân đội hoạt động và chiến đấu. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, ngành quân nhu đã cùng toàn dân, toàn quân trải qua một chặng đƣờng lịch sử “nuôi quân đánh giặc” đầy khó khăn, gian khổ hy sinh nhƣng rất vẻ vang. Tác phẩm đã phản ánh những nội dung chủ yếu, các mốc lịch sử quan trọng và bƣớc đầu làm rõ đƣợc vai trò, vị trí quan trọng của nhiệm vụ sản xuất, đảm bảo ăn, mặc cho quân đội chiến đấu và xây dựng.
8 z Một số công trình chuyên sâu về xây dựng LLVT trên từng mặt công tác nhƣ: Song Hào, Xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang nhân dân, NXB QĐND, Hà Nội, 1968 khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam là ngƣời sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện LLVT. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định sự trƣởng thành và thắng lợi của LLVT. “Vì vậy, lực lƣợng vũ trang muốn hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình là công cụ bạo lực của giai cấp công nhân thì trƣớc hết đảng bộ của Đảng trong lực lƣợng vũ trang phải luôn luôn đƣợc củng cố vững mạnh” [85, tr. Tác phẩm giúp ngƣời nghiên cứu đúc rút những nội dung cơ bản về xây dựng Đảng trong LLVT.
Từ đó, có cái nhìn đánh giá, nhận xét thành tựu và hạn chế, các biện pháp khắc phục của Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng trong quá trình xây dựng LLVTĐP về chính trị và tƣ tƣởng. Tác phẩm của Đại tƣớng Hoàng Văn Thái- Tổng Tham mƣu trƣởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu, NXB QĐND, Hà Nội, 1983 nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển công tác chỉ huy và tham mƣu trong quân đội. Tác giả đã khẳng định trong bài nói tại buổi lễ khai giảng khóa I, trƣờng Sĩ quan tham mƣu, tháng 5/1948 về vai trò của các cơ quan tham mƣu trong LLVT nhƣ sau: Từ tay không hoàn toàn, trải qua hai năm rƣỡi cố gắng, đến nay ta đã có một hệ thống cơ quan tham mƣu các cấp gồm Bộ tổng tham mƣu, các phòng tham mƣu khu và các ban tham mƣu trung đoàn. Các cơ quan tham mƣu của ta đã mò mẫm, vừa học vừa làm, đã có những thành tích nhất định trong việc tuyển quân, tổ chức biên chế, trang bị, cấp dƣỡng, luyện quân, đặc biệt đã phụng sự cho việc chỉ đạo bắt đầu kháng chiến toàn quốc nắm đƣợc quyền chủ động và đánh bại cuộc tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp, tức là đánh bại đƣợc âm mƣu đánh nhanh, thắng nhanh của chúng [131, tr.
Bằng các số liệu cụ thể, tác phẩm đi sâu phân tích các biện pháp đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ tham mƣu, nâng cao chất lƣợng công tác tham mƣu và công tác chỉ huy qua một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống thƣ̣c dân Pháp. Đây là tƣ liệu quý giúp ngƣời nghiên cứu hiểu một mặt công tác quan trọng trong xây dựng LLVT. Tác phẩm Tổng kết công tác tham mưu chiến lược của Cục Dân quân Tự vệ (1947-2000), do Bộ Tổng Tham mƣu cục DQTV biên soạn, NXB QĐND ấn hành năm 2007 nhƣ một công trình chuyên khảo nghiên cứu, tổng kết 60 năm xây dựng, chiến đấu, trƣởng thành của Cục DQTV trong nhiệm vụ tham mƣu chiến lƣợc về tổ chức, xây dựng, hoạt động của LLVT quần chúng cho Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc 9 z phòng, Bộ Tổng tham mƣu. Tác phẩm rút ra những bài học bổ ích, giúp thực hiện tốt nhất nhiệm vụ giai đoạn mới, khẳng định vị trí chiến lƣợc của Cục DQTV trong sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp đổi mới của Đảng.
Nhƣ vậy, các tác phẩm xuất bản thành sách của Việt Nam đề cập đến nhiều khía cạnh có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn, đồng thời khái quát và nêu lên những kinh nghiệm lớn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh vũ trang và xây dựng LLVT cách mạng thời kỳ tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lƣợc. Những kinh nghiệm đó đến nay vẫn có giá trị rất lớn, giúp NCS có thể vận dụng vào quá trình nghiên cứu luận án, đề xuất những bài học kinh nghiệm trong xây dựng LLVT ba thứ quân nói chung, LLVTĐP nói riêng khi tình hình thế giới, trong nƣớc đang có nhiều vấn đề nóng bỏng nhƣ hiện tại. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trong suy nghĩ của ngƣời nƣớc ngoài không chỉ là cuộc xung đột giữa hai bên tham chiến trực tiếp trên chiến trƣờng mà trở thành cuộc đối đầu giữa hai thế lực, phản ánh một phần tƣơng quan lực lƣợng giữa hai hệ thống xã hội đối lập, hai cực trong trật tự thế giới xác lập sau đại chiến. Cuộc chiến kết thúc cách nay hơn nửa thế kỉ nhƣng vẫn để lại nhiều dƣ âm, đƣợc nhắc đến nhƣ một thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam.