Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài “Căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)” được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phượng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Minh Hồng, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019 (mã số chuyên ngành Lịch sử Việt Nam: 9 22 90 13).

Về tính cấp thiết, trong chiến tranh giải phóng dân tộc thế kỷ XX, căn cứ kháng chiến giữ vai trò quyết định đến việc xây dựng lực lượng, bảo vệ các cơ quan đầu não chỉ đạo và đóng vai trò hậu phương tại chỗ. Địa bàn Sài Gòn – Gia Định là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, kinh tế của đối phương tại miền Nam, đồng thời là vùng tiếp giáp chuyển tiếp đặc thù giữa miền Đông Nam Bộ (rừng đồi bán cao nguyên) và miền Tây Nam Bộ (sông rạch, sình lầy). Trong khi các chiến trường khác hình thành căn cứ ở vùng rừng núi hiểm trở rộng lớn, căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định phải tồn tại ngay sát nách trung tâm đầu não của địch, chịu sự đánh phá khốc liệt và liên tục. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có các công trình nghiên cứu căn cứ ở miền Đông Nam Bộ, U Minh, Cực Nam Trung Bộ hay từng căn cứ đơn lẻ (như Củ Chi, Rừng Sác), song chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên biệt về toàn bộ hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định trong suốt tiến trình 21 năm kháng chiến chống Mỹ.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ quá trình tái lập, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1975; qua đó cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ củng cố thế trận quốc phòng, an ninh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam Bộ hiện nay. Để hiện thực hóa mục đích trên, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Luận giải những yếu tố về điều kiện tự nhiên, lịch sử – xã hội tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định.
  2. Phục dựng quá trình tái lập, xây dựng và các hoạt động của các căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ.
  3. Đánh giá vai trò của căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
  4. Phân tích những đặc điểm của căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định.
  5. Đúc kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình hoạt động căn cứ kháng chiến ở Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình tồn tại và hoạt động của hệ thống căn cứ kháng chiến trên địa bàn Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1975. Phạm vi không gian được xác định theo ranh giới hành chính – quân sự của lực lượng cách mạng mang tên “Khu Sài Gòn – Gia Định” (phần lớn tương ứng với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Phạm vi thời gian kéo dài từ sau Hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954) đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phạm vi nội dung tập trung vào bốn trục: quá trình tái lập, xây dựng phát triển; quá trình chiến đấu bảo vệ; quá trình phát huy vai trò tác dụng; đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân tích qua ba nhóm công trình trong nước và một nhóm công trình nghiên cứu ngoài nước:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu chung về chiến tranh giải phóng và kháng chiến chống Mỹ cứu nước có đề cập đến căn cứ kháng chiến. Nguồn cơ sở lý luận kinh điển gồm các tác phẩm quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Cách đánh du kích năm 1941, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970); các công trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Vũ trang quần chúng cách mạng xây dựng quân đội nhân dân năm 1972, Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng năm 1974); bài viết Chọn căn cứ địa của Tổng Bí thư Trường Chinh (1976). Về tổng kết chiến tranh, công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thắng lợi và bài học (1995) và Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975: thắng lợi và bài học (2000) của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã xác định xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến vững chắc là bài học kinh nghiệm lớn. Ở góc độ quân sự, bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) gồm 9 tập (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1995-2012) và bộ Lịch sử quân sự Việt Nam 14 tập (1999-2014) làm rõ vai trò hậu phương tại chỗ của căn cứ miền Nam. Viện Lịch sử Đảng đóng góp công trình Lịch sử Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục Miền Nam (1954-1975) do PGS. Nguyễn Quý chủ biên (2010). Lĩnh vực hậu cần có Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ (Tổng cục Hậu cần, 1986). Ngoài ra, bộ thông sử Lịch sử Việt Nam (tập 12 và 13, Viện Sử học, 2013-2014) và bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến (2 tập, Hội đồng chỉ đạo biên soạn, 2012) đã khái quát phong trào cách mạng đô thị và sự hình thành hệ thống căn cứ B2. Các công trình của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 do Nguyễn Viết Tá (1990), Nguyễn Hữu Nguyên (1999), Lâm Hiếu Trung (2003), Hồ Sơn Đài (2008, 2011) chủ biên đã phục dựng chiến sự và nghệ thuật quân sự Đông Nam Bộ.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu chuyên sâu về căn cứ kháng chiến tại các chiến trường miền Nam: luận án tiến sĩ của Hồ Sơn Đài (1995) về căn cứ địa miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp; luận án tiến sĩ của Trần Thị Nhung (2001) về căn cứ địa miền Đông Nam Bộ thời chống Mỹ; luận án của Trần Ngọc Long (2006) về căn cứ địa U Minh; luận án của Chu Đình Lộc (2011) về căn cứ cực Nam Trung Bộ; luận án của Trần Thúy Hiền (2015) về Trung Trung Bộ; luận án của Nguyễn Xuân Sinh (2015) về Nam Tây Nguyên; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu (2009) về căn cứ Củ Chi. Bên cạnh đó là các tập kỷ yếu hội thảo khoa học về căn cứ kháng chiến tại Tây Ninh (2002) và Bình Thuận (2012) với các tham luận của Nguyễn Thành Cung, Trần Đơn, Ngô Minh Phụng, Tạ Duy Bình.

Nhóm thứ ba gồm các công trình phản ánh trực tiếp phong trào và căn cứ tại Sài Gòn – Gia Định: Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập 1, Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên, 1987); Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1930-1975 (2014); Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945-1975) (2015); bộ hồi ký Căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định gồm 2 tập (Tập 1 gồm 102 bài, Tập 2 gồm 85 bài, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2014-2015); cùng các công trình lịch sử địa phương các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Quận 12 và lịch sử các lực lượng vũ trang, Biệt động, Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định.

Nhóm tài liệu nước ngoài gồm các tác phẩm hồi ký, khảo cứu của giới quân sự và chính trị gia Hoa Kỳ trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam: Maxwell Taylor với The Uncertain Trumpet (1959); Lyndon B. Johnson với The Vantage Point: Perspectives of the Presidency 1963-1969 (1971); William Westmoreland với A Soldier Reports (1976), mô tả hình thái chiến trường không chiến tuyến, thế trận đan cài “da báo” và chiến thuật tìm – diệt của quân đội Mỹ.

Vị trí của luận án: Kế thừa dữ liệu và nhận định từ các công trình đi trước, luận án của Nguyễn Thị Phượng là công trình đầu tiên tập trung làm rõ căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định một cách toàn diện từ góc độ lịch sử quân sự và lịch sử chiến tranh cách mạng, phân tích tính liên hoàn của hệ thống căn cứ ba vùng (giải phóng, ven đô, nội thành) áp sát trung tâm đầu não của đối phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin (phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cơ sở lý luận về căn cứ địa xuất phát từ luận điểm của V.I. Lênin về tầm quan trọng của hậu phương vững chắc trong chiến tranh; tư tưởng Hồ Chí Minh trong Cách đánh du kích (1941) về yêu cầu đội du kích phải có nơi đứng chân hiểm yếu, được quần chúng ủng hộ để tích trữ lương thực, củng cố thực lực và tiến lên chính quy; quan điểm của Tổng Bí thư Trường Chinh (1945) về bốn điều kiện xây dựng căn cứ kháng chiến (địa lý, quân sự, kinh tế, chính trị); chỉ đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong Thư vào Nam về quy luật phát triển từ khởi nghĩa từng phần, lập căn cứ địa đến tổng khởi nghĩa. Luận án sử dụng khái niệm “căn cứ kháng chiến” với nội hàm tương đương khái niệm “căn cứ địa”, được hiểu là vùng đứng chân của cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và lực lượng vũ trang, là hậu phương trực tiếp tại chỗ bảo đảm sức người sức của, là bàn đạp xuất phát tiến công và là biểu tượng chính trị, tinh thần của phong trào kháng chiến.

Phương pháp nghiên cứu thực tế thuộc hướng nghiên cứu định tính chuyên ngành Lịch sử Việt Nam:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hệ thống căn cứ qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể gắn với các giai đoạn chiến lược của cuộc chiến tranh.
  • Phương pháp logic: Khái quát hóa, phân tích bản chất, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa căn cứ kháng chiến với chiến trường đô thị và vùng phụ cận, từ đó rút ra các đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức và thao tác nghiên cứu của khoa học quân sự, khoa học chính trị, địa lý quân sự và xã hội học.
  • Các thao tác bổ trợ: Phương pháp điền dã thực địa tại các di tích căn cứ kháng chiến trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận; phương pháp so sánh lịch sử; phương pháp chuyên gia thông qua việc trao đổi với các nhân chứng lịch sử và nhà nghiên cứu.

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án gồm: văn kiện chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM), Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7, Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM; các công trình tổng kết lịch sử đảng bộ, lịch sử lực lượng vũ trang thành phố và các quận, huyện; hệ thống hồi ký của cán bộ lão thành cách mạng; tài liệu điền dã, khảo sát thực địa của chính nghiên cứu sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Quy mô cấu trúc luận án gồm 143 trang nội dung chính (chưa tính phụ lục và tài liệu tham khảo), được phân bổ cụ thể qua bảng thống kê sau:

Phần / Chương Tên chương / Nội dung Số trang
Mở đầu Đặt vấn đề, đối tượng, phạm vi, phương pháp, đóng góp khoa học 7 trang
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 24 trang
Chương 2 Quá trình tái lập, hình thành các căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1965 41 trang
Chương 3 Xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1965-1975 43 trang
Chương 4 Đặc điểm, vai trò và một số kinh nghiệm 27 trang
Kết luận Đúc kết toàn bộ công trình 6 trang
Tài liệu tham khảo Danh mục tài liệu lưu trữ, văn bản, sách báo nghiên cứu 18 trang
Phụ lục Bảng biểu, sơ đồ tổ chức, tư liệu bổ trợ 107 trang

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích các nhóm công trình trong nước và quốc tế liên quan đến căn cứ kháng chiến và chiến trường Sài Gòn – Gia Định. Tác giả chỉ rõ các kết quả nghiên cứu trước đây đã cung cấp nền tảng tư liệu phong phú về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, hoạt động hậu phương và lịch sử đảng bộ các địa phương. Tuy nhiên, phần lớn các công trình chỉ khảo sát căn cứ ở quy mô toàn miền Nam, vùng Đông Nam Bộ hoặc phân tích các căn cứ đơn lẻ, cục bộ. Chương này xác định khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết: phân tích hệ thống căn cứ Khu Sài Gòn – Gia Định như một chỉnh thể hoàn chỉnh, làm rõ cơ chế tồn tại và tác động qua lại giữa căn cứ ngoại vi với trung tâm đô thị trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ.

Chương 2: Quá trình tái lập, hình thành các căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1965

Chương 2 phục dựng bối cảnh tự nhiên, lịch sử – xã hội và quá trình tái lập căn cứ từ sau Hiệp định Genève đến khi kết thúc chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

Về điều kiện tự nhiên, Sài Gòn – Gia Định nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Bộ, là điểm kết nối giữa vùng đồi núi bán cao nguyên phía Bắc – Tây Bắc với vùng đồng bằng châu thổ trũng thấp, sình lầy phía Nam – Đông Nam. Đặc điểm này chi phối cách thức tổ chức căn cứ: vùng đất cao, đất sét pha cát cứng ở Củ Chi thích hợp đào hầm hào ngầm tạo thành hệ thống địa đạo kiên cố; trong khi vùng trũng ngập mặn Rừng Sác thích hợp xây dựng các cứ điểm căn cứ nổi trên mặt nước. Về mặt quân sự, đối phương thiết lập Biệt khu Thủ đô thuộc Vùng III Chiến thuật gồm 9 quận đô thành Sài Gòn và 8 quận thuộc Tiểu khu Gia Định. Nhằm bảo vệ trung tâm này, đối phương bố trí 4 sư đoàn (Sư đoàn 5 tại Biên Hòa, Sư đoàn 7 tại Mỹ Tho, Sư đoàn 9 tại Sa Đéc, Sư đoàn 21 tại Bạc Liêu), cùng 100% lực lượng tổng trù bị chiến lược (dù, thủy quân lục chiến). Từ năm 1963, Ngô Đình Diệm bố trí thêm Sư đoàn 5 tại Lai Khê và Sư đoàn 25 tại Đồng Dù, kết hợp Hải đoàn 24 và Sư đoàn không quân số 5 bao quanh Sài Gòn.

Về điều kiện xã hội, dân số khu vực tăng nhanh qua các thời kỳ: cuối thế kỷ XIX khoảng 317.000 người; năm 1921 đạt 453.000 người; năm 1943 đạt 861.000 người; đến năm 1957 đạt 1.718.000 người và năm 1973 lên tới 3.805.900 người (tăng gần 12 lần sau một thế kỷ và tăng gần 5 lần trong 30 năm chiến tranh). Sự biến động cư dân tạo nên một cộng đồng đa dạng, đoàn kết, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, trở thành nguồn lực người và của cho kháng chiến.

Hệ thống căn cứ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) được tác giả phân tích như nền tảng vật chất và kinh nghiệm trực tiếp để lực lượng cách mạng tái lập căn cứ thời chống Mỹ:

Căn cứ thời chống Pháp Quy mô, vị trí địa lý Đặc điểm tổ chức và vai trò ghi nhận trong văn bản
An Phú Đông Xã An Phú Đông và Thạnh Lộc (Gia Định), cách Sài Gòn 7 km đường bộ, 4 km đường chim bay. Căn cứ đầu tiên của tỉnh Gia Định; tòa soạn báo Cảm Tử (in 5.000 bản/số); xưởng quân giới sản xuất 50 viên đạn, 50 lựu đạn/ngày; bàn đạp tập kích Gò Vấp, Bà Chiểu.
Rừng Sác Rộng khoảng 600 km2 tại quận Nhà Bè, tiếp giáp sông Soài Rạp, sông Lòng Tàu. Địa hình rừng ngập mặn đan cài; căn cứ của bộ đội Bình Xuyên (Ban chỉ huy Dương Văn Dương, Lê Văn Viễn); uy hiếp tuyến vận tải thủy vào cảng Sài Gòn.
Vườn Thơm – Bà Vụ Rộng gần 200 km2, gồm 6 xã trung tâm (Tân Tạo, Tân Nhựt, Tân Bửu, Lương Hòa, Hựu Thạnh Hạ, Đức Hòa Hạ) và 9 xã ngoại vi. Nằm cách trung tâm 10 km về phía Tây; trung tâm là Láng Le – Bàu Cò; trạm tiếp đón cán bộ, xưởng binh công xưởng, nối liền Sài Gòn với Đồng Tháp Mười.
Khu 5 Hóc Môn 5 xã: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông. Nằm dọc hữu ngạn sông Sài Gòn; nối thông lên căn cứ Bời Lời, Dương Minh Châu; khởi đầu tuyến địa đạo đầu tiên nối Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An (tiền thân Địa đạo Củ Chi).
Hố Bần Rộng khoảng 500 ha tại Khu 3 (Quận 8 tiếp giáp Bình Chánh). Vùng đầm lầy cây bần và lác hiểm trở; đứng chân của hai trung đội vũ trang bảo vệ cơ quan khu, phục kích bót Bình Đông, bót Cây Dương.
Long Phước Thôn (Khu B) Hữu ngạn sông Đồng Nai và sông Tắc (Thủ Đức). Nơi đứng chân cơ quan cấp Thành (1948-1949); hậu cứ của lực lượng biệt động cửa ngõ Đông Bắc.

Sau năm 1954, trước chính sách “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm, các cơ sở cách mạng từng bước bám dân, khôi phục lại các lõm căn cứ bí mật. Từ sau phong trào Đồng khởi (1960) và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hệ thống căn cứ Khu Sài Gòn – Gia Định từng bước được tái lập vững chắc. Trong giai đoạn chống “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), lực lượng cách mạng phân chia ba vùng chiến lược để chỉ đạo: vùng giải phóng (tuyến căn cứ ngoại vi bảo vệ cơ quan lãnh đạo), vùng tranh chấp ven đô (tổ chức ấp xã chiến đấu, lập lõm du kích bằng ba mũi giáp công) và vùng nội thành (xây dựng mạng lưới cơ sở mật, lấy đấu tranh chính trị làm chính).

Chương 3: Xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1965-1975

Chương 3 trình bày sự phát triển của hệ thống căn cứ qua ba giai đoạn chiến lược liên tiếp:

Giai đoạn chống “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968): Quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến, biến Sài Gòn và vùng phụ cận thành mục tiêu bình định trọng điểm với các cuộc hành quân tìm – diệt quy mô lớn (như chiến dịch Crimp, Cedar Falls nhằm vào Tam giác sắt và Củ Chi). Hệ thống căn cứ Sài Gòn – Gia Định được củng cố và mở rộng thành hệ thống liên hoàn, kiên cố hóa địa đạo, công sự ngầm. Các căn cứ này đóng vai trò bàn đạp hậu cần, nơi tập kết các cánh quân, kho chứa vũ khí và sở chỉ huy tiền phương để tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não của đối phương trong nội đô Sài Gòn.

Giai đoạn chống “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1972): Sau Mậu Thân 1968, đối phương tập trung phi pháo, chất độc hóa học và mạng lưới đồn bốt nhằm triệt hạ vùng ven, đẩy lực lượng kháng chiến ra xa thành phố. Quân và dân Khu Sài Gòn – Gia Định kiên trì bám trụ, củng cố căn cứ lòng dân, khôi phục các hành lang vận chuyển, duy trì các lõm chính trị nội đô và lõm căn cứ ven đô, từng bước đánh bại kế hoạch bình định cấp tốc và bình định đặc biệt của đối phương.

Giai đoạn 1973-1975: Sau Hiệp định Paris (tháng 1 năm 1973), hệ thống căn cứ Khu Sài Gòn – Gia Định được củng cố toàn diện cả về quân sự, kinh tế và lực lượng chính trị. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các căn cứ kháng chiến xung quanh Sài Gòn đã phát huy cao nhất vai trò bàn đạp xuất phát tiến công, mở đường và đón các quân đoàn chủ lực tiến đánh giải phóng hoàn toàn thành phố vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chương 4: Đặc điểm, vai trò và một số kinh nghiệm

Chương 4 đúc kết các luận điểm khái quát từ thực tiễn lịch sử:

Về đặc điểm: Căn cứ Khu Sài Gòn – Gia Định hình thành và tồn tại ngay tại trung tâm đầu não của đối phương, tạo nên thế trận đan cài “da báo”, “cài răng lược” rất phức tạp. Hệ thống căn cứ được phân thành ba phân vùng chức năng rõ rệt: căn cứ giải phóng ở vùng ven/ngoại ô, vùng tranh chấp ven đô, và hệ thống lõm căn cứ bí mật (cơ sở quần chúng) trong nội thành. Căn cứ tồn tại dựa chủ yếu vào “thế trận lòng dân”, lấy sự che chở, nuôi giấu của nhân dân làm vỏ bọc sinh tồn vững chắc nhất trước sức mạnh hỏa lực vượt trội của đối phương.

Về vai trò: Hệ thống căn cứ là nơi đứng chân chỉ đạo an toàn của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định; đóng vai trò hậu phương tại chỗ cung cấp nhân lực, vật lực, vũ khí tự tạo và y tế; là bàn đạp xuất phát tiến công trực tiếp uy hiếp các cơ quan đầu não đối phương; đồng thời là biểu tượng chính trị khích lệ ý chí quật khởi của nhân dân đô thị miền Nam.

Về bài học kinh nghiệm: Luận án đúc kết các bài học về kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ; bài học dựa vững chắc vào nhân dân, xây dựng “căn cứ lòng dân”; bài học phát triển căn cứ toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế hậu cần; bài học xử lý linh hoạt nghệ thuật chiến tranh nhân dân trên địa bàn đô thị và ven đô.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học và lý luận, luận án đạt được ba đóng góp mới cụ thể:

  1. Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và độc lập về căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975).
  2. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn về cách thức xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ kháng chiến trên vùng chiến lược đô thị – một địa bàn đặc thù trong chiến tranh cách mạng Việt Nam thời hiện đại.
  3. Luận án góp phần bổ sung, hoàn chỉnh tiến trình lịch sử hệ thống căn cứ địa, căn cứ kháng chiến tại chiến trường miền Nam (B2) nói riêng và lịch sử quân sự cách mạng Việt Nam nói chung.

Về ý nghĩa thực tiễn, luận án làm sáng tỏ bài học phát huy sức mạnh toàn dân trong chiến tranh nhân dân, cung cấp cơ sở tham khảo cho việc xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và củng cố “thế trận lòng dân” tại Thành phố Hồ Chí Minh và địa bàn Đông Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay. Luận án cũng là tài liệu phục vụ giáo dục truyền thống yêu nước tại địa phương và nghiên cứu giảng dạy lịch sử tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo những ghi nhận trong văn bản, hạn chế của đề tài chủ yếu xuất phát từ nguồn tư liệu lịch sử. Việc tiếp cận nguồn tài liệu hồi ký của các cán bộ, chiến sĩ lão thành đòi hỏi phải tiến hành đối chiếu, thẩm tra nghiêm ngặt do sự mai một về thời gian và độ chuẩn xác của trí nhớ nhân chứng. Một số hồ sơ lưu trữ liên quan đến các giai đoạn chiến sự khốc liệt (đặc biệt là giai đoạn 1968-1970) bị thất lạc hoặc phân tán ở nhiều trung tâm lưu trữ khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là mở rộng khảo sát so sánh chuyên sâu giữa hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định với các căn cứ đô thị khác tại miền Nam thời kỳ 1954-1975 (như Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ), đồng thời khai thác sâu hơn các nguồn tư liệu quân sự từ phía Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa để bổ sung cái nhìn đối chiếu đa chiều.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự tại các trường đại học, học viện quân đội và viện nghiên cứu khoa học xã hội.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu quốc phòng – an ninh, các cơ quan quân sự địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh và Quân khu 7 trong việc hoạch định thế trận phòng thủ khu vực, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương gắn với thế trận lòng dân.
  • Cán bộ ngành tuyên giáo, văn hóa, quản lý di tích lịch sử trong việc quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích căn cứ kháng chiến trên địa bàn TP.HCM (như Địa đạo Củ Chi, Rừng Sác Cần Giờ, An Phú Đông, Vườn Thơm).

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong luận án là hệ thống cứ liệu về các căn cứ chuyển tiếp từ kháng chiến chống Pháp sang chống Mỹ (Chương 2) và chương tổng kết các đặc điểm, bài học kinh nghiệm về tổ chức căn cứ đô thị ba vùng chiến lược (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm “căn cứ kháng chiến” trong luận án được hiểu như thế nào và có điểm gì khác với “căn cứ địa”? Trong phạm vi luận án, tác giả sử dụng thuật ngữ “căn cứ kháng chiến” (phổ biến trong kháng chiến chống Mỹ) với nội hàm tương đương với thuật ngữ “căn cứ địa” (phổ biến trong thời kỳ tiền khởi nghĩa 1930-1945 và kháng chiến chống Pháp 1945-1954). Đây là địa bàn do lực lượng cách mạng làm chủ, có địa thế phòng thủ, là nơi đứng chân của cơ quan chỉ huy, nơi xây dựng lực lượng, tập kết xuất phát tiến công và là hậu phương trực tiếp tại chỗ cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh.

2. Cấp ủy lãnh đạo Khu Sài Gòn – Gia Định đã phân chia chiến trường thành những vùng căn cứ nào? Khác với sự phân chia 3 vùng chiến lược của Trung ương Cục trên toàn chiến trường B2 (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), các cấp ủy Khu Sài Gòn – Gia Định phân chia địa bàn thành 3 vùng căn cứ: (i) Vùng căn cứ giải phóng (tuyến căn cứ ngoại vi, lấy đấu tranh vũ trang làm chính để giữ vững địa bàn); (ii) Vùng tranh chấp ven đô (tiến hành song song đấu tranh chính trị và vũ trang, tạo các “lõm du kích”, giành quyền làm chủ bằng “3 mũi giáp công”); (iii) Vùng nội thành (lấy đấu tranh chính trị làm chính kết hợp binh vận và xây dựng mạng lưới cơ sở bí mật).

3. Địa hình tự nhiên Sài Gòn – Gia Định tác động như thế nào đến cách thức tổ chức các căn cứ kháng chiến? Do nằm ở vùng chuyển tiếp giữa bán cao nguyên phía Bắc và đồng bằng châu thổ phía Nam, địa hình Sài Gòn – Gia Định tạo ra hai phương thức tổ chức căn cứ đặc thù: vùng cao, đất cứng Củ Chi ở phía Bắc – Tây Bắc được cải tạo thành hệ thống địa đạo chìm trong lòng đất kiên cố; vùng trũng thấp ngập mặn Rừng Sác ở phía Nam – Đông Nam được xây dựng thành hệ thống căn cứ nổi trên mặt nước, lợi dụng sông rạch sình lầy để phòng thủ và tập kích luồng vận tải thủy của địch.

4. Trong kháng chiến chống Pháp, những căn cứ tiêu biểu nào xung quanh Sài Gòn đã được thành lập làm tiền đề cho giai đoạn sau? Văn bản ghi nhận các căn cứ chủ chốt gồm: Chiến khu An Phú Đông (lấy An Phú Đông và Thạnh Lộc làm trung tâm), căn cứ Rừng Sác (quận Nhà Bè, địa bàn của bộ đội Bình Xuyên), căn cứ Vườn Thơm – Bà Vụ (rộng gần 200 km2, trung tâm Láng Le – Bàu Cò), căn cứ Khu 5 Hóc Môn (gồm 5 xã vùng giải phóng dọc sông Sài Gòn, nơi bắt đầu hệ thống địa đạo đầu tiên), căn cứ Hố Bần (rộng 500 ha tại Khu 3) và căn cứ Long Phước Thôn (Khu B Thủ Đức).

5. Đối phương bố trí lực lượng quân sự bảo vệ Biệt khu Thủ đô Sài Gòn như thế nào theo ghi nhận của luận án? Theo tổ chức của đối phương, đô thành Sài Gòn gồm 9 quận và Tiểu khu Gia Định gồm 8 quận, thuộc Biệt khu Thủ đô. Để bảo vệ khu vực này, đối phương bố trí tới 4 trong số 9 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 5, 7, 9, 21), 100% lực lượng tổng trù bị chiến lược (nhảy dù, thủy quân lục chiến). Từ năm 1963, chính quyền Sài Gòn bố trí trực tiếp Sư đoàn 5 ở Lai Khê và Sư đoàn 25 ở Đồng Dù án ngữ cửa ngõ Sài Gòn, phối hợp với Hải đoàn 24 và Sư đoàn không quân số 5.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phượng là công trình sử học chuyên khảo phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống quá trình tái lập, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1975. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic kết hợp khảo sát thực địa, luận án đã làm sáng tỏ quy luật sinh tồn và phát triển của căn cứ kháng chiến trên địa bàn đô thị đặc thù dưới hình thái thế trận “cài răng lược” và “thế trận lòng dân”. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần hoàn thiện nhận thức học thuật về nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, mà còn cung cấp cơ sở khoa học giá trị phục vụ sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.