Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử "Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975" do nghiên cứu sinh Lưu Thị Bích Ngọc thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số: 92 29 013), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bình Ban, bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954-1975), thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc có sự đóng góp của lực lượng Công an nhân dân nói chung và Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam nói riêng. Trước tình hình và yêu cầu cách mạng miền Nam sau năm 1954, Trung ương Cục miền Nam đã thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy (tháng 7-1960, sau đổi tên thành Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam vào tháng 10-1961). Đây là cơ quan chuyên trách giúp Trung ương Cục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác an ninh, trực tiếp đương đầu với mạng lưới tình báo, gián điệp, công an, cảnh sát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Dù chiến tranh đã lùi xa hơn 45 năm và có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử chiến tranh cũng như lịch sử Công an nhân dân, thực tế vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về vai trò, chức năng tham mưu và tổ chức chỉ đạo thực tế của Ban An ninh Trung ương Cục trong suốt giai đoạn 1960-1975. Luận án được triển khai nhằm làm sáng tỏ tính tất yếu lịch sử của sự ra đời tổ chức này, làm rõ các đóng góp thực tiễn và đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục từ năm 1960 đến năm 1975; đúc kết các kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, bao gồm các công trình khoa học chung về kháng chiến chống Mỹ và các công trình khoa học lịch sử Công an nhân dân.
- Phân tích tính tất yếu khách quan của sự ra đời và quá trình kiện toàn tổ chức, bộ máy của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.
- Làm rõ vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trong công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ tháng 7-1960 đến ngày 30-4-1975.
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình hoạt động; rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục trong tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự cần thiết thành lập, quá trình phát triển tổ chức bộ máy, cùng vai trò tham mưu và chỉ đạo trực tiếp cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ lãnh đạo và căn cứ kháng chiến.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 7-1960 (thời điểm thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy Nam Bộ) đến ngày 30-4-1975 (ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam; Ban An ninh Trung ương Cục kết thúc sứ mệnh vào tháng 2-1976).
- Phạm vi không gian: Địa bàn chỉ đạo chính là chiến trường B2 (từ Ninh Thuận đến Cà Mau). Trong giai đoạn từ tháng 7-1960 đến trước tháng 4-1966, phạm vi chỉ đạo bao gồm từ nam vĩ tuyến 17 trở vào; từ tháng 4-1966, An ninh Khu Trị - Thiên - Huế và An ninh Khu V được chuyển giao đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục giới hạn phụ trách từ Ninh Thuận trở vào.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước:
Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và chiến tranh Việt Nam
- Các công trình tổng kết chiến lược: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Thắng lợi và bài học (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 2000); bộ sách 9 tập Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 2013); Lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1954-1975, Tập II (Trần Bạch Đằng chủ biên, 2012).
- Các luận án tiến sĩ chuyên ngành lịch sử: Luận án của Hà Minh Hồng (1997) về chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ giai đoạn 1969-1972; luận án của Trần Thị Thu Hương (2000) về chống phá "quốc sách" ấp chiến lược (1961-1965); luận án của Trần Như Cương (2003) về chống bình định tại miền Đông Nam Bộ (1961-1965); luận án của Phí Văn Thức (2006) về phong trào đô thị (1961-1968); luận án của Chu Đình Lộc (2011) về căn cứ kháng chiến ở cực Nam Trung Bộ (1954-1975).
Các công trình nghiên cứu về Công an nhân dân và An ninh miền Nam
- Lịch sử an ninh các chiến trường và địa phương: An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ 1954-1975 (Ngô Quang Nghĩa chủ biên, 1995); Lịch sử Công an nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Tập II (1954-1975) (Trần Cường chủ biên, 1997); Lịch sử An ninh Khu Trị-Thiên-Huế (1966-1975) (Nguyễn Đình Bảy chủ biên, 2006); Lịch sử An ninh Khu VI... (Nguyễn Đức Minh chủ biên, 2007); Lịch sử An ninh Khu V... (Nguyễn Trọng Khuê chủ biên, 2008); Lịch sử An ninh Khu Đông Nam Bộ... (Vũ Kim Dung chủ biên, 2010); Tổng kết lịch sử an ninh Khu IX... (Huỳnh Hữu Chiến chủ biên, 2010).
- Các công trình chuyên đề lực lượng và tổng kết nghiệp vụ: Đề tài cấp Bộ về trinh sát vũ trang diệt ác, trừ gian (Nguyễn Xuân Ngọc chủ biên, 2014); Tổng kết lịch sử Công an nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Viện Lịch sử Công an, 2017); Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang... (Nguyễn Bình Ban chủ biên, 2017); Tổng kết lịch sử công tác Điệp báo an ninh miền Nam... (Đặng Xuân Loan chỉ đạo biên soạn, 2017).
- Các bài viết tham luận khoa học của các tác giả: Nguyễn Trọng Phúc (2005), Nguyễn Văn Nhật (2005), Trần Văn Lang (2010), Nguyễn Đức Lâm (2010), Trần Đại Quang (2015), Nguyễn Bình Ban (2015), Tô Lâm (2017).
Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
- Tài liệu và hồi ký chiến trường: Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tập 1 (Neil Sheehan, 1971); Cuộc tháo chạy tán loạn (Frank Snepp, 1985); Tường trình của một quân nhân (William C. Westmoreland); Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (Robert S. McNamara); 25 năm tôi làm việc ở CIA: Sự lừa dối kinh khủng (Ralph W.); Một chiến thắng bị bỏ lỡ (William Colby, 2007); Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam (Nguyễn Phú Đức, 2009).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trên chủ yếu tiếp cận theo diện rộng của toàn bộ cuộc chiến, hoặc đi sâu vào từng chiến trường khu vực (Khu V, Khu VI, Khu VIII, Khu IX, T4), từng phân hệ nghiệp vụ biệt lập (điệp báo, an ninh vũ trang, trinh sát vũ trang), hoặc dưới góc độ sự lãnh đạo của Đảng đoàn Bộ Công an và các Tỉnh ủy, Khu ủy. Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về một công trình chuyên khảo nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục với tư cách là cơ quan đầu não chỉ đạo nghiệp vụ và tham mưu chiến lược tại chiến trường miền Nam dưới sự lãnh đạo song trùng của Trung ương Cục và Đảng đoàn Bộ Công an.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận án quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ đạo kết hợp các phương pháp liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hình thành, phát triển tổ chức, hoạt động nghiệp vụ và chiến đấu của Ban An ninh Trung ương Cục qua từng giai đoạn cụ thể gắn với diễn biến chiến trường.
- Phương pháp lôgíc: Phân tích, khái quát hóa, đánh giá vai trò tham mưu và tổ chức thực hiện, chỉ ra nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và rút ra 4 bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu; phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu các giai đoạn 1960-1965 và 1965-1975); phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp nghiên cứu điển hình; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê tư liệu; phương pháp chuyên gia và tọa đàm (tham vấn ý kiến các nhân chứng lịch sử và nhà khoa học lịch sử công an).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu...
- Văn kiện Đảng toàn tập (từ tập 15 năm 1954 đến tập 36 năm 1975); Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước (Tập I: 1954-1965, Tập II: 1966-1975); Văn kiện Trung ương Cục miền Nam (từ tập 7 năm 1957 đến tập 18 năm 1975).
- Hồ sơ, tài liệu lưu trữ, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo sơ kết, tổng kết của Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam và an ninh các khu, tỉnh.
- Các công trình chuyên khảo, hồi ký, tài liệu xuất bản của đối phương và kỷ yếu các hội thảo khoa học lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này phân tích có hệ thống 3 nhóm công trình: các nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam và kháng chiến chống Mỹ; các công trình nghiên cứu lịch sử Công an nhân dân, lực lượng An ninh miền Nam; các ấn phẩm, tài liệu của các tác giả nước ngoài và phía chính quyền Sài Gòn. Trên cơ sở chỉ ra những kết quả đã đạt được, tác giả xác định 4 nội dung trọng tâm mà luận án đi sâu giải quyết:
- Luận giải tính tất yếu khách quan của việc thành lập và phát triển tổ chức bộ máy Ban An ninh Trung ương Cục.
- Phân tích vai trò kép: tham mưu chiến lược cho Trung ương Cục và trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ toàn Miền.
- Đánh giá thành công, hạn chế và làm rõ nghệ thuật đấu tranh chống phản cách mạng của lực lượng An ninh miền Nam.
- Tôn vinh đóng góp của cán bộ, chiến sĩ và đúc rút các bài học kinh nghiệm cho công tác bảo vệ an ninh hiện nay.
Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
Chương 2 trình bày bối cảnh lịch sử sau Hiệp định Genève năm 1954 khi cán bộ, chiến sĩ chuyển sang hoạt động bí mật, đối phó với chính sách khủng bố và Luật 10-59 của chính quyền Ngô Đình Diệm. Giai đoạn 1954-1960, Ban Địch tình Xứ ủy Nam Bộ và Ban Bảo vệ Xứ ủy (thành lập tháng 10-1954, gắn liền với sự ra đời của Đại đội C80 bảo vệ căn cứ) đã duy trì mạng lưới điệp báo, bảo vệ cán bộ chủ chốt.
Tháng 7-1960, Xứ ủy Nam Bộ ra chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy (phiên hiệu C93B) do đồng chí Phạm Thái Bường làm Trưởng ban, Cao Đăng Chiếm làm Phó Trưởng ban. Ngày 23-1-1961, Hội nghị Trung ương 3 (khóa III) quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay thế Xứ ủy Nam Bộ. Tháng 10-1961, tại Hội nghị lần thứ nhất ở Đồi 300 (chiến khu D), tổ chức Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam chính thức được xác lập trên cơ sở Ban Địch tình và Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy.
| Giai đoạn phát triển |
Cơ cấu tổ chức và các bộ phận nghiệp vụ chính |
| Giai đoạn 1960 - 1965 |
- Tháng 8-1962, Ban Thường vụ Trung ương Cục chỉ định lãnh đạo: Phan Văn Đáng (Trưởng ban), Cao Đăng Chiếm (Phó ban), các Ủy viên: Huỳnh Việt Thắng, Lê Văn Còn, Huỳnh Anh, Thái Doãn Mẫn. - Thành lập các tiểu ban: Văn phòng (B1), Bảo vệ chính trị (B2), Điệp báo (B3), Bảo vệ nội bộ/Cảnh vệ (B4), Trung đội bảo vệ vũ trang (B5), Tổ cơ yếu điện đài, bộ phận sản xuất. - Tháng 10-1962: Thành lập Đảng bộ Ban An ninh Trung ương Cục. - Ngày 16-1 đến 21-3-1963: Tổ chức Hội nghị An ninh toàn miền lần thứ nhất tại căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) với 67 đại biểu, thống nhất hệ thống Ban An ninh các cấp. - Tháng 10-1963: Thành lập Tiểu ban Chấp pháp trại giam và Trường An ninh Trung ương Cục (ngày 9-10-1963 tại Đội Thơ, Tân Biên, Tây Ninh). |
| Giai đoạn 1965 - 1975 |
- Tiếp nhận chi viện lớn về cán bộ, phương tiện kỹ thuật từ Bộ Công an qua đường Trường Sơn. - Kiện toàn cơ cấu chuyên sâu: Trinh sát vũ trang, An ninh đô thị, An ninh vũ trang (Đoàn 180), Điệp báo, Chấp pháp, Bảo vệ nội bộ, bổ sung Tiểu ban trật tự. - Hoàn thiện hệ thống an ninh phân khu, khu (T1, T2, T3, T4, Khu VI), tỉnh, huyện, xã đồng bộ trên toàn chiến trường B2. |
Chương 3: Ban An ninh Trung ương Cục tham mưu cho Trung ương Cục xây dựng và ban hành các chỉ thị, nghị quyết về công tác an ninh ở miền Nam (1960-1975)
Chương 3 tập trung phân tích chức năng tham mưu chiến lược của Ban An ninh Trung ương Cục thể hiện qua 3 phương diện:
- Tham mưu xây dựng đường lối, phương châm, chính sách phân hóa, trừng trị và cải tạo các đối tượng phản cách mạng phù hợp với đặc thù từng giai đoạn; hoàn thiện các chỉ thị về công tác bảo vệ nội bộ và bảo vệ căn cứ kháng chiến.
- Tham mưu quy hoạch, kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng an ninh qua từng thời kỳ; phân định ranh giới chức năng giữa tình báo chiến lược quân sự và tình báo chính trị, phản gián an ninh.
- Tham mưu phát động và tổ chức các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh trật tự, tiêu biểu là phong trào "phòng gian bảo mật", "ngũ gia liên bảo" tại vùng giải phóng và khu căn cứ, tạo thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Chương 4: Ban An ninh Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo và tổ chức công tác an ninh miền Nam (1960-1975)
Chương này trình bày toàn diện hoạt động thực tế trên chiến trường qua các mặt công tác chuyên môn:
- Chỉ đạo trên 3 vùng chiến lược: Tổ chức thực hiện phương châm "chủ động tấn công địch, tích cực bảo vệ mình" linh hoạt trên 3 vùng (rừng núi, nông thôn - đồng bằng, đô thị).
- Công tác điệp báo và an ninh đô thị: Xây dựng mạng lưới điệp báo thâm nhập sâu vào các cơ quan đầu não, cảnh sát, tình báo của chính quyền Sài Gòn; tổ chức mạng lưới bám rễ nội đô Sài Gòn - Gia Định và các thị xã.
- Công tác trinh sát vũ trang diệt ác, trừ gian: Lập các đội trinh sát vũ trang luồn sâu đánh trúng những đối tượng tình báo, mật vụ, chỉ điểm khét tiếng, làm lung lay mạng lưới kìm kẹp ở cơ sở.
- Bảo vệ nội bộ và chống gián điệp, nội gián: Phát hiện, bóc gỡ các mạng lưới tình báo thâm nhập, bảo vệ cơ quan lãnh đạo, bảo vệ các tổ chức cơ sở Đảng.
- An ninh vũ trang (Đoàn 180): Bảo vệ tiếp cận an toàn tuyệt đối các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Trung ương Cục, bảo vệ hành lang vận chuyển và căn cứ địa kháng chiến.
- Công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ: Trường An ninh Trung ương Cục trong hơn 11 năm đã tổ chức 70 khóa đào tạo, bồi dưỡng trên 5.000 cán bộ cốt cán cấp khu, tỉnh, huyện.
- Phối hợp chiến đấu: Phối hợp cùng Quân giải phóng bẻ gãy các cuộc càn quét quy mô lớn của đối phương; đỉnh điểm là huy động gần 13.000 cán bộ, chiến sĩ an ninh tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Chương 5: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm
Chương 5 tổng kết toàn bộ chặng đường 15 năm hoạt động của Ban An ninh Trung ương Cục:
- Ưu điểm và nguyên nhân: Xây dựng được tổ chức hoàn chỉnh, kiên định sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình, bảo vệ an toàn đầu não kháng chiến và đánh bại các kế hoạch tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Nguyên nhân bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Trung ương, sự chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc và sự đùm bọc của nhân dân.
- Hạn chế và nguyên nhân: Một số giai đoạn có lúc còn lúng túng trước thủ đoạn chiến tranh tâm lý, bình định cấp tốc của địch; công tác xây dựng mạng lưới an ninh cơ sở tại một số địa bàn còn mỏng do chiến trường bị đánh phá khốc liệt.
- Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử:
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về đấu tranh chống phản cách mạng, bảo đảm an ninh trật tự phù hợp với từng giai đoạn cách mạng miền Nam.
- Coi trọng công tác vận động, tổ chức quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ phong trào cách mạng trên cả 3 vùng chiến lược.
- Xây dựng lực lượng an ninh miền Nam toàn diện, thống nhất về tổ chức bộ máy, vững vàng về chính trị tư tưởng, tinh thông về nghiệp vụ, giữ vai trò nòng cốt, xung kích.
- Coi trọng hàng đầu công tác nắm tình hình, thực hiện phương châm chủ động tấn công địch gắn liền với tích cực bảo vệ mình trong mọi tình huống.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt lý luận và tư liệu lịch sử:
- Bổ sung nguồn tư liệu lịch sử: Hệ thống hóa và cung cấp nhiều nguồn tư liệu mới về hoạt động của Ban An ninh Trung ương Cục và An ninh miền Nam giai đoạn 1954-1975, làm sáng tỏ các sự kiện, nhân vật và tổ chức lịch sử Công an nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ.
- Làm rõ tính tất yếu và sự phát triển tổ chức: Luận giải cơ sở khách quan của việc thành lập Ban An ninh Trung ương Cục; phân tích chi tiết quá trình kiện toàn cơ cấu bộ máy qua hai giai đoạn cụ thể (1960-1965 và 1965-1975) nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển biến của chiến trường.
- Làm sáng tỏ vai trò kép của Ban An ninh Trung ương Cục: Khẳng định Ban An ninh Trung ương Cục vừa là cơ quan tham mưu chiến lược cho Trung ương Cục về đường lối, phương châm công tác an ninh; vừa là cơ quan chỉ huy nghiệp vụ trực tiếp chỉ đạo toàn bộ mạng lưới an ninh các cấp tại miền Nam.
- Đúc kết bài học kinh nghiệm thực tiễn: Rút ra 4 bài học lịch sử về lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tổ chức thế trận an ninh nhân dân, có giá trị vận dụng cho công tác bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung phản ánh vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục theo phạm vi địa bàn quy định (chiến trường B2 từ Ninh Thuận đến Cà Mau; sau tháng 4-1966 không bao gồm Khu Trị - Thiên - Huế và Khu V). Do tính bảo mật nghiệp vụ và điều kiện tư liệu lịch sử thời chiến, việc tái hiện chi tiết từng chuyên án điệp báo, phản gián cụ thể chỉ dừng lại ở các điển hình tiêu biểu đã được giải mật.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khai thác sâu hơn các hồ sơ nghiệp vụ lưu trữ tại các địa phương thuộc chiến trường B2; nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa công tác chỉ đạo an ninh ở chiến trường Nam Bộ với chiến trường Khu V và Trị - Thiên - Huế; mở rộng nghiên cứu tác động của hoạt động an ninh miền Nam đối với cục diện đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Công an nhân dân tại các học viện, trường đại học (đặc biệt là các trường Công an nhân dân); cán bộ làm công tác nghiên cứu lịch sử truyền thống và cơ quan tham mưu chiến lược an ninh.
- Phần đáng tham khảo:
- Chương 2 về mô hình tổ chức bộ máy, cơ chế chỉ đạo và sự phân công nhiệm vụ an ninh thời chiến.
- Chương 4 về phương thức tổ chức mạng lưới điệp báo, an ninh đô thị, trinh sát vũ trang và kinh nghiệm đào tạo cán bộ tại Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam.
- Chương 5 về các bài học kinh nghiệm xây dựng thế trận an ninh nhân dân và công tác bảo vệ nội bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam được thành lập vào thời gian nào và có các tiền thân là gì?
Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam có tiền thân từ Ban Bảo vệ Xứ ủy và Ban Địch tình Xứ ủy Nam Bộ (thành lập tháng 10-1954). Đến tháng 7-1960, Xứ ủy Nam Bộ ra chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy (phiên hiệu C93B). Sau khi Trung ương Đảng quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ và lập Trung ương Cục miền Nam (tháng 1-1961), tại Hội nghị lần thứ nhất ở Đồi 300 vào tháng 10-1961, tên gọi Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam chính thức được xác lập.
2. Phạm vi không gian chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục thay đổi như thế nào sau tháng 4-1966?
Từ tháng 7-1960 đến trước tháng 4-1966, Ban An ninh Trung ương Cục theo dõi, chỉ đạo công tác an ninh từ nam vĩ tuyến 17 trở vào. Đến tháng 4-1966, An ninh Khu Trị - Thiên - Huế và An ninh Khu V được chuyển giao đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Công an. Từ mốc thời gian này đến ngày 30-4-1975, địa bàn chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục được giới hạn từ tỉnh Ninh Thuận đến Cà Mau (chiến trường B2).
3. Cơ cấu tổ chức ban đầu của Ban An ninh Trung ương Cục (tháng 8-1962) gồm những bộ phận nào?
Về ban lãnh đạo, đồng chí Phan Văn Đáng làm Trưởng ban, Cao Đăng Chiếm làm Phó Trưởng ban, cùng các Ủy viên: Huỳnh Việt Thắng, Lê Văn Còn, Huỳnh Anh, Thái Doãn Mẫn. Về các bộ phận chuyên môn trực thuộc gồm có: Văn phòng (B1), Tiểu ban Bảo vệ chính trị (B2), Tiểu ban Điệp báo (B3), Tiểu ban Bảo vệ nội bộ / Cảnh vệ (B4), Trung đội bảo vệ vũ trang (B5), Tổ cơ yếu, điện đài và Bộ phận sản xuất.
4. Quy mô đào tạo của Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ đạt kết quả ra sao?
Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam được thành lập ngày 9-10-1963 tại Đội Thơ, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (do đồng chí Lê Văn Còn phụ trách). Trong hơn 11 năm hoạt động, nhà trường đã biên soạn nhiều hệ thống giáo trình chuyên ngành và tổ chức được 70 khóa học, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho trên 5.000 cán bộ an ninh cốt cán cấp khu, tỉnh, huyện phục vụ chiến trường miền Nam.
5. Lực lượng An ninh miền Nam đã huy động quân số bao nhiêu trong Chiến dịch mùa Xuân 1975?
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, Ban An ninh Trung ương Cục đã huy động gần 13.000 cán bộ, chiến sĩ các lực lượng an ninh tham gia tiếp quản, bảo vệ mục tiêu, truy kích mạng lưới gián điệp, tình báo đối phương và giữ gìn trật tự trị an tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định và các địa phương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Thị Bích Ngọc là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển tổ chức và vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trong giai đoạn 1960-1975. Tác phẩm đã phân tích rõ nét chức năng tham mưu chiến lược và năng lực tổ chức chỉ đạo thực tế của cơ quan đầu não an ninh trên chiến trường B2. Thông qua việc tổng kết các hoạt động nghiệp vụ và chiến đấu, luận án khẳng định đóng góp của lực lượng An ninh miền Nam vào thắng lợi chung của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay.