Tổng quan luận án

Công trình Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (mã số 9 22 90 02), do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Bích Thảo thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Xuân Phúc, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

An ninh quốc gia (ANQG) là vấn đề trọng yếu, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc. Tại Việt Nam, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước xác định tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân (CAND) giữ vai trò nòng cốt. Trong bối cảnh trong nước, khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp — nền kinh tế đứng trước thách thức phát triển bền vững, an ninh tại các địa bàn chiến lược tiềm ẩn yếu tố mất ổn định, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, cùng sự xuất hiện của các nguy cơ an ninh phi truyền thống — nhiệm vụ bảo đảm ANQG đặt ra yêu cầu cao đối với lực lượng CAND.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây về an ninh quốc gia chủ yếu tiếp cận dưới góc độ nghiệp vụ chuyên ngành, phân tích nhiệm vụ, thẩm quyền hoặc quy trình kỹ thuật trên từng lĩnh vực cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANQG từ góc độ phát huy vai trò của nhân tố chủ quan (NTCQ) dưới lăng kính của triết học Mác - Lênin nói chung, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này có tính cấp thiết cả về mặt lý luận triết học và thực tiễn công tác bảo vệ ANQG.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng phát huy vai trò NTCQ của lực lượng CAND, luận án đề xuất các yêu cầu và hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả phát huy vai trò NTCQ của lực lượng công an trong đảm bảo ANQG ở Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Một là: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án.
    2. Hai là: Làm rõ một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò NTCQ của lực lượng CAND trong đảm bảo ANQG.
    3. Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng phát huy vai trò NTCQ của lực lượng CAND trong đảm bảo ANQG ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó.
    4. Bốn là: Xác định yêu cầu và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy hiệu quả vai trò NTCQ của lực lượng công an trong đảm bảo ANQG ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát huy vai trò của nhân tố chủ quan của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên phạm vi toàn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 2013 (thời điểm ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2019).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan thành bốn nhóm nội dung chính:

Nhóm công trình Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung chính và giá trị tham khảo
1. Nghiên cứu về NTCQ và vai trò của NTCQ - G. Gleserman (Liên Xô); V. Cudơmin; A. Iaxkevich; tập thể tác giả tại Kiep (1980); B. Vôrônôvích (1984)
- Tài liệu Mác - Ăngghen - Lênin - Stalin bàn về mối quan hệ giữa nhân tố chủ quan và khách quan (1984)
- Hồ Văn Thông; Lương Việt Hải; Phạm Văn Đức; Phạm Văn Nhuận; Nguyễn Thị Bích Thủy
- Luận giải phạm trù khách quan - chủ quan, ĐKKQ - NTCQ trong quy luật xã hội.
- Khẳng định tính quyết định của ĐKKQ và tính năng động, tích cực, sáng tạo của NTCQ.
- Cung cấp cơ sở phương pháp luận và cấu trúc NTCQ.
2. Nghiên cứu về phát huy vai trò NTCQ - Sergeev (trong công trình do V.G. Afanasev chủ biên); Vũ Huy; Nguyễn Chí Mỳ; Trần Bảo; Trần Thành
- Luận án TS của: Lê Hữu Xanh; Dương Thị Liễu; Nguyễn Đức Tiến; Phạm Ngọc Minh; Nguyễn Tiến Thủ; Phạm Văn Nhuận; Nguyễn Đình Hùng
- Phân tích cơ chế vận dụng NTCQ trong quản lý xã hội, định hướng kinh tế, xây dựng Đảng, rèn luyện quân đội và bộ đội biên phòng.
- Gợi mở cách tiếp cận giải pháp phát huy nhân tố con người trong lực lượng vũ trang.
3. Lý luận cơ bản về ANQG và NTCQ của CAND - Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2000)
- Giáo trình Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia (Học viện ANND, 2004)
- Xây dựng lực lượng CAND trong tình hình mới (2006)
- Bảo vệ ANQG, an ninh kinh tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự... (2009)
- Hội nhập kinh tế quốc tế những vấn đề đặt ra đối với công tác công an (2008)
- Nghệ thuật bảo vệ ANQG: lý luận và thực tiễn (2012)
- Công an nhân dân Việt Nam với tác phẩm Tư cách người công an cách mệnh của Hồ Chí Minh (2013)
- Nguyễn Thị Phương Hoa (2018); Phạm Thái Bình
- Làm rõ khái niệm ANQG, bảo vệ ANQG, an ninh phi truyền thống.
- Đặt nền tảng về phẩm chất chính trị, đạo đức, nghệ thuật nghiệp vụ bảo vệ ANQG.
- Tiếp cận ANQG dưới góc độ luật hình sự, giai cấp và hội nhập quốc tế.
4. Giải pháp phát huy vai trò NTCQ của CAND - Kỷ yếu Nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong CAND
- Xây dựng đội ngũ trí thức CAND trong tình hình mới
- Phát huy nguồn nhân lực CAND đáp ứng yêu cầu đổi mới...
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ ANQG
- Vai trò của phương pháp luận biện chứng duy vật đối với hoạt động của người cán bộ, chiến sĩ công an
- An ninh phi truyền thống những vấn đề lý luận và thực tiễn
- Kỷ yếu Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong CAND hiện nay
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về CAND...
- Xây dựng người thanh niên công an bản lĩnh, kỷ cương, nhân văn, trách nhiệm...
- Các đề tài cấp Bộ do Bộ Công an quản lý
- Đề xuất các giải pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng, chuẩn hóa đội ngũ trí thức, nâng cao năng lực chỉ huy, đổi mới phương thức tác chiến.
- Khẳng định vai trò định hướng của phương pháp luận biện chứng duy vật đối với hoạt động thực tiễn của công an.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy, dù số lượng công trình liên quan đến ANQG và NTCQ tương đối phong phú, nhưng các công trình chủ yếu dừng ở phạm vi lý luận chung hoặc phân tích dưới góc độ khoa học nghiệp vụ công an, khoa học pháp lý. Luận án tập trung giải quyết ba vấn đề chưa được hệ thống hóa đầy đủ:

  1. Xác lập đặc trưng bản chất của NTCQ là tính tích cực sáng tạo của chủ thể hoạt động trong quan hệ với ĐKKQ.
  2. Xây dựng định nghĩa, xác định cấu trúc hoàn chỉnh của NTCQ của lực lượng CAND trong đảm bảo ANQG và làm rõ thực chất của quá trình phát huy vai trò NTCQ này.
  3. Khảo sát thực trạng giai đoạn 2013–2019, phân tích nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ tư tưởng và đường lối chỉ đạo: Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (đặc biệt là tác phẩm Tư cách người công an cách mệnh và 6 điều Bác Hồ dạy CAND) cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quốc phòng, an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Khung phân tích triết học: Vận dụng các cặp phạm trù và nguyên lý của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử:
    • Cặp phạm trù Chủ thể - Khách thể, Chủ quan - Khách quan, Điều kiện khách quan - Nhân tố chủ quan.
    • Nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa ĐKKQ và NTCQ: ĐKKQ giữ vai trò quyết định, quy định nội dung, nhịp độ và xu hướng vận động của NTCQ; ngược lại, NTCQ có tính độc lập tương đối, thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức để nhận thức quy luật, tác động cải biến hiện thực và thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển xã hội.
    • Khái niệm NTCQ tiếp thu từ quan điểm của A.K. Uleđốp: NTCQ là tổng thể các thuộc tính, phẩm chất, trạng thái của chủ thể được biểu hiện trong hoạt động thực tiễn.
    • Cấu trúc NTCQ của lực lượng CAND trong đảm bảo ANQG bao gồm các yếu tố: nhận thức, tri thức (lý luận chính trị, khoa học liên ngành, pháp luật, nghiệp vụ, thực tiễn), tình cảm cách mạng, ý thức chính trị, đạo đức, ý chí bản lĩnh và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch.
  • Phương pháp kết hợp lịch sử và logic.
  • Phương pháp so sánh.
  • Phương pháp chuyên gia.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (trọng tâm là Nghị quyết 28-NQ/TW khóa XI).
  • Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 47), Luật Công an nhân dân, Nghị định số 136/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an.
  • Báo cáo nghiệp vụ, kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Bộ, tài liệu giáo trình và lưu hành nội bộ của Học viện An ninh nhân dân, Viện Chiến lược và Khoa học Công an.
  • Các từ điển chuyên ngành: Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Từ điển nghiệp vụ CAND (1977).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tiến hành phân loại, phân tích nội dung và đánh giá thành tựu của bốn nhóm tài liệu khoa học:

  • Nhóm 1: Các nghiên cứu lý luận triết học mácxít về phạm trù khách quan, chủ quan, điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan của các học giả Liên Xô và Việt Nam, khẳng định vai trò nền tảng của vật chất đối với ý thức nhưng nhấn mạnh tính năng động của NTCQ.
  • Nhóm 2: Các nghiên cứu về cơ chế và giải pháp phát huy NTCQ trong quản lý kinh tế, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về ANQG, an ninh phi truyền thống, nghệ thuật bảo vệ an ninh và xây dựng lực lượng CAND vững mạnh về chính trị.
  • Nhóm 4: Các công trình, kỷ yếu khoa học bàn về giải pháp nâng cao bản lĩnh, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin, giáo dục chính trị tư tưởng và phát triển nguồn nhân lực CAND.

Chương này rút ra kết luận: Các công trình đi trước là cơ sở lý luận quan trọng nhưng chưa có công trình nào giải quyết trực tiếp, hệ thống việc phát huy vai trò NTCQ của lực lượng CAND trong bảo đảm ANQG dưới góc độ triết học CNDVBC&DVLS.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò nhân tố chủ quan của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý luận của luận án:

  • Lý luận về NTCQ và ĐKKQ: NTCQ là khái niệm chỉ các yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động vào hoạt động nhằm nhận thức hoặc cải tạo khách thể. Đặc trưng cơ bản của NTCQ là tính tích cực sáng tạo. ĐKKQ là tổng thể các yếu tố, quan hệ tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể, tạo thành hoàn cảnh thực tiễn chi phối hoạt động của chủ thể.
  • Khái niệm và cấu trúc NTCQ của CAND trong đảm bảo ANQG:
    • Khái niệm: Là toàn bộ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của lực lượng CAND được huy động vào hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ANQG trong những điều kiện khách quan nhất định.
    • Cấu trúc NTCQ: Bao gồm hệ thống các thành tố có mối liên hệ biện chứng: (1) Nhận thức và tri thức (tri thức lý luận chính trị Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tri thức khoa học tự nhiên - xã hội - công nghệ, tri thức pháp luật và nghiệp vụ chuyên ngành); (2) Tình cảm cách mạng, đạo đức và ý thức chính trị; (3) Ý chí, nghị lực, bản lĩnh chiến đấu; (4) Năng lực tổ chức thực tiễn và tác chiến độc lập. Trong đó, tri thức là yếu tố cơ bản nhất cấu thành sức mạnh của ý thức, còn phẩm chất và năng lực quyết định trực tiếp hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
  • Đặc điểm của lực lượng CAND và ANQG:
    • CAND là lực lượng vũ trang trọng yếu, mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    • Ba chức năng cơ bản của CAND: (1) Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; (2) Tham mưu cho Đảng và Nhà nước về ANQG và trật tự an toàn xã hội; (3) Trực tiếp đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, các loại tội phạm và hành vi xâm phạm ANQG.
    • Ba đặc thù hoạt động: đặc thù về vị trí chức năng, đặc thù về lĩnh vực công tác rộng lớn bao trùm toàn xã hội, và đặc thù về môi trường công tác phức tạp, nguy hiểm, đối mặt với nhiều cám dỗ vật chất.
  • Bản chất phát huy vai trò NTCQ của CAND trong bảo đảm ANQG: Là quá trình hoàn thiện nhân cách người công an cách mạng, tạo lập điều kiện, động lực để cán bộ, chiến sĩ phát huy cao độ tính tự giác, chủ động, sáng tạo nhằm xử lý linh hoạt các tình huống nghiệp vụ và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh đất nước.

Chương 3: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

Chương 3 khảo sát thực tế việc phát huy NTCQ của lực lượng CAND từ năm 2013 đến 2019:

  • Phân tích thực trạng các thành tố NTCQ:
    • Sự chuyển biến trong nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng và việc quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng về an ninh quốc phòng.
    • Trình độ tri thức lý luận, chuyên môn, pháp luật và nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được nâng cao thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng.
    • Tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt khó, lòng trung thành và ý thức phục vụ nhân dân theo 6 điều Bác Hồ dạy.
    • Năng lực nắm bắt tình hình, phân tích dự báo, tham mưu chiến lược và trực tiếp xử lý các điểm nóng, các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, an ninh biên giới, an ninh mạng và an ninh phi truyền thống.
  • Đánh giá thực trạng:
    • Ưu điểm: Lực lượng CAND luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phát huy vai trò xung kích, nòng cốt, chủ động đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu phá hoại, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
    • Hạn chế: Nhận thức và trình độ nghiệp vụ ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa theo kịp diễn biến nhanh chóng của tình hình; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có nơi còn hình thức; khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống và tội phạm công nghệ cao đôi lúc còn lúng túng.
    • Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự chống phá tinh vi của các thế lực thù địch và mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Nguyên nhân chủ quan nằm ở công tác quản lý, đào tạo cán bộ chưa thực sự đồng bộ; cơ chế kiểm tra, giám sát và chính sách đãi ngộ còn bất cập.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nhân tố chủ quan của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định phương hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả NTCQ:

  • Các yêu cầu cơ bản:
    • Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với CAND.
    • Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết 28-NQ/TW).
    • Kết hợp chặt chẽ việc phát huy tính tích cực chủ quan với việc tuân thủ các quy luật khách quan và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
  • Hệ thống giải pháp cơ bản:
    1. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Trang bị thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản, giáo dục lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; đẩy mạnh học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND.
    2. Nâng cao trình độ tri thức và năng lực toàn diện: Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng tri thức lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên sâu, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ và kỹ năng làm chủ khoa học công nghệ hiện đại cho cán bộ, chiến sĩ.
    3. Rèn luyện ý chí, bản lĩnh và đạo đức cách mạng: Nâng cao tinh thần kỷ luật, kỷ cương, khả năng chịu đựng gian khổ, hiểm nguy; phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ lực lượng.
    4. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chính sách đãi ngộ: Kiện toàn tổ chức bộ máy CAND tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và môi trường công tác chiến đấu.
    5. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào hoạt động nghiệp vụ an ninh; phát huy mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa CAND với Quân đội nhân dân và các ban, ngành, đoàn thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm quan điểm của triết học Mác - Lênin về phạm trù nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan và mối quan hệ biện chứng giữa chúng trong lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học và xác lập cấu trúc hoàn chỉnh của NTCQ của lực lượng CAND trong đảm bảo ANQG (gồm các thành tố: nhận thức, tri thức, tình cảm cách mạng, phẩm chất chính trị, ý chí đạo đức và năng lực thực tiễn).
  • Luận giải làm rõ thực chất của việc phát huy vai trò NTCQ của CAND là quá trình hoàn thiện nhân cách người công an cách mạng, tạo động lực thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực thi nhiệm vụ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tổng kết và đánh giá toàn diện thực trạng phát huy vai trò NTCQ của lực lượng CAND từ năm 2013 đến năm 2019 gắn liền với việc thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
  • Chỉ rõ các thành tựu, hạn chế cụ thể trong các yếu tố cấu thành NTCQ của CAND và làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan.
  • Đề xuất hệ thống yêu cầu và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ ANQG trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Luận án tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học (CNDVBC và CNDVLS) ở tầm khái quát lý luận và nguyên tắc phương pháp luận chung, do đó không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành mang tính bảo mật của ngành công an.
  • Phạm vi khảo sát thực tiễn giới hạn từ năm 2013 đến năm 2019, gắn với mốc triển khai Nghị quyết 28-NQ