đặt vấn đề sự tác động qua lại giữa các hệ thống quản lý và các hệ thống bị quản lý trong xã hội có liên quan mật thiết đến vấn đề chủ thể - khách thể, nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm về điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan gắn liền với sự phát triển xã hội. Theo tác giả, những điều kiện khách quan không phụ thuộc vào ý chí của các tập đoàn, đảng phái, giai cấp. Đó là tiêu chuẩn làm cho phạm trù “điều kiện khách quan” khác với phạm trù “nhân tố chủ quan”. Nhân tố chủ quan của sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức, có tổ chức của mọi người nhằm giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định và đạt tới những mục tiêu nhất định.
Do đó, nhân tố chủ quan của quản lý có một cơ cấu tổ chức phức tạp gồm các chính đảng, Nhà nước và hệ thống cơ quan chu ên ngành của Nhà nước, các tổ chức xã hội, những người hoạt động trong tổ chức chính trị, Nhà nước, xã hội để đề xuất và thông qua cùng tổ chức thi hành các nghị quyết quản lý. Hạt nhân của nhân tố nà là Đảng. Đảng chịu trách nhiệm cơ bản trong việc lãnh đạo toàn bộ hệ thống xã hội cũng như từng khâu của hệ thống này. Trong bài viết Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự thống nhất ba lợi ích [79], tác giả Nguyễn Chí Mỳ đã chứng minh rằng, loài người bao giờ cũng hoạt động theo những lợi ích nhất định.
Trong quá trình hoạt động đó, con người tạo ra hàng chuỗi những sự kiện tất yếu khách quan làm tha đổi tồn tại xã hội. Chính vì vậy, họ tạo ra những điều kiện thuận lợi, cơ sở để xây dựng thành công CNXH. Qua đó, tác giả đưa ra êu cầu phải có sự thống nhất ba lợi ích (Cá nhân - Tập thể - Xã hội) và để thực hiện được điều đó phải phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong việc thống nhất ba lợi ích thành động lực mạnh mẽ để phát triển XHCN. Tác giả Trần Bảo trong bài viết Về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng CNXH [18] đã đưa ra những nghiên cứu về phương pháp và tiêu chuẩn để phân biệt những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong đời sống xã hội, phân cấp độ, trình độ 12 luan an khác nhau của điều kiện khách quan đến hoạt động của chủ thể để từ đó chủ thể chủ động tiến hành hoạt động đạt kết quả để tránh những sai lầm và trên cơ sở đó phát hu cao độ nhất sức mạnh của nhân tố chủ quan.
Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra nhân tố chủ quan và xây dựng chủ nghĩa xã hội là toàn bộ hoạt động của chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội là Đảng Cộng sản, nhà nước và quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, nhân tố chủ quan ở đâ là toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản, nhà nước và quần chúng nhân dân lao động. Toàn bộ những hoạt động nà đều nhằm thực hiện một mục đích thống nhất là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Theo tác giả, những hoạt động này có những chức năng và tính chất khác nhau tương ứng với mỗi bộ phận cụ thể của chủ thể. Để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của nhân tố chủ quan trong xây dụng chủ nghĩa xã hội, tác giả chỉ ra những vấn đề phức tạp cần tập trung giải quyết, đó là, thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan để phát huy tích cực sáng tạo của nhân tố chủ quan; thứ hai, lợi ích vật chất bộ phận quan trọng nhất trong cơ chế tác động của các quy luật khách quan, yếu tố cơ bản kích thích hoạt động sáng tạo của nhân tố chủ quan. Tác giả Trần Thành trong bài viết Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay [96] đã đề cập tới vấn đề phải tiếp tục phát huy vai trò nhân tố chủ quan, trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước để tạo ra sự đồng thuận xã hội và có những căn cứ, việc làm, bước đi cụ thể nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Và để làm đúng điều đó, tác giả chỉ ra rằng, cần phải có niềm tin vững chắc trên tinh thần thật sự khoa học về mô hình kinh tế nà ; nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức Đảng; tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò và hiện thực quản lý kinh tế của Nhà nước, bảo đảm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
13 luan an Ngoài các công trình trên, đã có một số luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề nhân tố chủ quan nói chung. Tác giả Lê Hữu Xanh, trong Luận án tiến sĩ Nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dụng đội ngũ cán bộ Đảng viên ở nông thôn nước ta hiện nay [113], đã khẳng định, vấn đề vai trò nhân tố chủ quan liên quan trực tiếp đến yếu tố con người. Trong công trình này, tác giả đi sâu vào phân tích và đưa ra những nguyên tắc và giải pháp phát huy vai trò NTCQ trong xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên ở nông thôn [113, Tr. Trong đó, tác giả tập trung vào các giải pháp, như: (a) làm sáng tỏ quan điểm lý luận về đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn theo định hướng XHCN; trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, cần quán triệt trong đội ngũ cán bộ đảng viên các quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế nông thôn.
(b) Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng của các tổ chức Đảng cơ sở nông thôn. (c) Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và nâng cao trình độ dân trí chung của nông dân. (d) Tạo điều kiện khai thác và phát huy mặt tích cực trong các quan hệ xã hội nông thôn [113, Tr. Luận án Tiến sĩ Tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam của tác giả Dương Thị Liễu [64] đã đưa ra định nghĩa về nhân tố chủ quan: “Nhân tố chủ quan là toàn bộ hoạt động của chủ thể (hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn) nhằm thực hiện mục đích của mình và những thuộc tính, phẩm chất, trạng thái của chủ thể được biểu hiện (định hướng) trong hoạt động đó” [68, tr.
Tuy nhiên, khi phân tích nội dung phát huy vai trò NTCQ trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, tác giả lại chưa làm rõ khái niệm phát huy vai trò NTCQ trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường là như thế nào [68, tr. Trong Luận án tiến sĩ Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển lý tưởng XHCN ở thanh niên quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay [102] tác giả Nguyễn Đức Tiến cho rằng, NTCQ là trình độ về 14 luan an mọi mặt của thanh niên quân đội, tác giả nhận định sự phát triển lý tưởng XHCN là kết quả của tác động biện chứng giữa điều kiện khách quan (môi trường sống và hoạt động của thanh niên quân đội) và NTCQ [102, tr. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở thanh niên quân đội Nhân dân Việt Nam, tác giả đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển lý tưởng XHCN ở thanh niên quân đội: (1) Xây dựng môi trường lành mạnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến thanh niên quân đội. (2) Nâng cao chất lượng giáo dục và tự giáo dục chính trị, tư tưởng.
(3) Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng hệ thống giá trị với giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên quân đội [102, tr. Tác giả Phạm Ngọc Minh trong công trình Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay [83] đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong thời kỳ cả nước tiến lên CNXH [83, tr. 43-76] và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan ở nước ta như nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, vai trò của nhân dân [83, tr. Cũng ở nghiên cứu này, khi trình bày kết luận về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và NTCQ, tác giả đã đưa ra sơ đồ thể hiện mối quan hệ này trong khuôn khổ hoạt động của con người.
Sơ đồ đó giúp chúng ta thấy mối quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa chủ thể - khách thể, cái chủ quan – cái khách quan, nhân tố chủ quan – nhân tố khách quan, cũng như tác động giữa tất cả các yếu tố này trong vòng tuần hoàn hoạt động của con người [83, tr. Tác giả Nguyễn Tiến Thủ trong Luận án tiến sĩ Biện chứng giữa chủ thể và Khách thể nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay [98]. Cho rằng, giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể thực chất là giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học; là để trả lời cho câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? [98, tr. Trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin về mối 15 luan an quan hệ chủ thể, khách thể, luận án bàn về vai trò, vị trí chủ thể của sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học [98, tr.
Tuy luận án không đề cập trực tiếp đến NTCQ và vai trò NTCQ, nhưng những nghiên cứu của tác giả là nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi tham khảo trong nghiên cứu quan điểm triết học Mác-Lênin về lý luận nhận thức và vận dụng nó trong nghiên cứu của mình.