Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 3 của cục đào tạo bộ công an

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 3 tại Cục Đào tạo Bộ Công An.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh

Luận văn tập trung vào quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh cho đối tượng 3 tại Cục Đào tạo, Bộ Công An. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Quản lý giáo dục được xem là yếu tố then chốt trong việc đảm bảo mục tiêu chiến lược quốc phòng toàn dân.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng

Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh, tập trung vào các khái niệm cơ bản như giáo dục quốc phòng, đào tạo an ninh, và chương trình bồi dưỡng. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của quản lý giáo dục trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, đặc biệt là trong lực lượng Công An Nhân Dân.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng bao gồm chính sách, nguồn lực, và sự phối hợp giữa các cơ quan. Chính sách an ninhnội dung giáo dục được xem là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng chương trình đào tạo hiệu quả. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp quản lý để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

II. Thực trạng quản lý bồi dưỡng tại Cục Đào tạo Bộ Công An

Luận văn đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh tại Cục Đào tạo, Bộ Công An. Kết quả cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như thiếu đồng bộ trong chương trình bồi dưỡng và yếu kém trong quản lý nguồn lực.

2.1. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng

Hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh cho đối tượng 3 được triển khai nghiêm túc, nhưng hiệu quả chưa đồng đều. Nội dung giáo dục cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với tình hình thực tế. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng giảng viên.

2.2. Đánh giá quản lý hoạt động bồi dưỡng

Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng còn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc tổ chức và kiểm tra. Quản lý giáo dục cần được tăng cường để đảm bảo chất lượng đào tạo. Nghiên cứu đề xuất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan.

III. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng

Luận văn đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh tại Cục Đào tạo, Bộ Công An. Các biện pháp này tập trung vào việc cải thiện chương trình bồi dưỡng, tăng cường quản lý giáo dục, và phát triển năng lực đối tượng học viên.

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

Các biện pháp được đề xuất dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính khả thicần thiết. Quản lý giáo dục cần được thực hiện đồng bộ từ khâu lập kế hoạch đến đánh giá kết quả. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ trong quản lý đào tạo.

3.2. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi

Các biện pháp đề xuất đã được khảo nghiệm để đảm bảo tính khả thicần thiết. Kết quả cho thấy, các biện pháp này có thể áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý bồi dưỡng kiến thức quốc phòngan ninh.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 3 của cục đào tạo bộ công an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, Hướng dẫn số 90/HD- HĐGDQPAN, ngày 31 tháng 05 năm 2016 của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương.Chức năng, nhiệm vụ của đối tượng 3 - Chức năng: Bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 là quá trình tổ chức truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những kiến thức quân sự, là sự tác động tích cực nhiều chiều đối với học viên, nhưng học viên ở đây là những cán bộ chủ trì, chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo, quản lý nhà nước ở cấp huyện và cấp tỉnh. Đây là nét nổi bật của quá trình bồi dưỡng và cũng là khó khăn, thách thức lớn đối với chủ thể quản lý trên ba phương diện: tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo; thực hiện chương trình nội dung; bảo đảm vật chất, phương tiện cho quá trình này. Như vậy, thực chất quá trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 là quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức, một bộ phận của hoạt động sư phạm nói chung, chức năng của nó là trang bị kiến thức QP&AN. Trên cơ sở phân tích khái niệm về đối tượng 3 đã trình bày trên, có thể thấy, đối tượng 3 có chức năng là đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp huyện; ở cấp phòng và tương đương thuộc cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh và của Trung ương có trụ sở trên địa bàn cấp tỉnh; Trong lực lượng vũ trang, là đội ngũ sĩ quan giữ chức vụ lãnh đạo cấp phòng, cấp huyện và tương đương; sĩ quan có cấp bậc quân hàm Thượng tá.

Với chức năng là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đối tượng 3 phải tiến hành đồng thời các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các tổ chức cấp trên; đề xuất, kiến nghị với cấp trên những vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo, quản lý đối với địa phương, đơn vị cấp mình. Trong hoạt động bồi dưỡng 11 kiến thức QP&AN, đối tượng 3 là đối tượng quan trọng, bởi đây chính là lực lượng sẽ tiếp tục chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng cấp dưới, theo đúng quy định của Luật giáo dục QP&AN. - Nhiệm vụ: Theo Quy định số 07/QĐ-HĐ GDQPANTW, 14/02/2008 về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên, quy định về nhiệm vụ của đối tượng 3 như sau: Nhiệm vụ chung:Học tập, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ, đảng viên; được bồi dưỡng kiến thức QP&AN là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên là một trong những tiêu chí xem xét, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, tổ chức các cấp, các ngành. Do vậy trong nhiệm kỳ công tác, cán bộ phải hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN tương ứng với chức danh cán bộ và được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức QP&AN theo Chương trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định.

Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương đến cơ sở, phải tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức QP&AN theo triệu tập của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về Giáo dục QP&AN [15]. - Nhiệm vụ cụ thể của đối tượng 3: Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về QP&AN trong từng giai đoạn cách mạng, nôi dung nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nắm vững âm mưu, thủ đoạn thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Nắm vững nội dung xây dựng khu vực phòng thủ ở địa phương; Có kiến thức cơ bản để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở, người đứng đầu cơ quan, tổ chức và tổ chức hiện thực có hiệu quả công tác QP&AN theo cương vị công tác được giao.Nhu cầu bồi dưỡng của đối tượng 3 Hiện nay, nhu cầu bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối với tất cả các đối tượng là vô cùng lớn. Đây không chỉ là chủ trương chung của Đảng, Nhà nước mà còn là yêu 12 cầu, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và trong cả hệ thống chính trị. Trong lực lượng CAND, nhu cầu bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối với đối tượng 3 cũng là con số không hề nhỏ.

Số lượng nhu cầu bồi dưỡng mỗi năm đối với đối tượng 3, đều được Bộ Công an căn cứ trên đăng ký nhu cầu bồi dưỡng từ các đơn vị trực thuộc Bộ, Công an các tỉnh, địa phương…chỉ tính đến năm 2019, số lượng đối tượng 3 chưa qua bồi dưỡng của toàn lực lượng CAND là 1103 người [Phụ lục 01]. Tuy nhiên, số lượng khóa bồi dưỡng và số lượng học viên từng khóa trong các năm không đồng đều (có năm tổ chức được 8 khóa bồi dưỡng, có năm chỉ 03 khóa) mặc dù nhu cầu bồi dưỡng và số lượng cán bộ đối tượng 3 của LLCAND rất cao và khả năng đảm bảo của Cục Đào tạo có thể tổ chức mỗi năm từ 08 đến 10 khóa. Đặc điểm này là do tính đặc thù của đối tượng 3 và đặc thù công tác nghiệp vụ của lực lượng nên hoạt động mở lớp cũng như nhu cầu đăng ký bồi dưỡng đôi khi còn hạn chế. Hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 3 1.

Khái niệm hoạt động bồi dưỡng và hoạt động bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 1. Khái niệm hoạt động bồi dưỡng Theo Từ điển giáo dục học năm 2011: “Bồi dưỡng là quá trình giáo dục, đào tạo thêm nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn”, cụ thể hơn: “Bồi dưỡng là trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể, ví dụ như bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lí luận, nghiệp vụ sư phạm” [41]. Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, một bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ ” [20]. Từ các luận điểm trên, tác giả cho rằng khái niệm bồi dưỡng được nhìn nhận theo nhiều góc độ và mức độ rộng hẹp khác nhau, nhưng chung quy lại có thể coi bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng nhằm nâng cao tay nghề cho người lao động, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của tổ chức.

13 Như vậy, bồi dưỡng được hiểu là quá trình học tập của mỗi người diễn ra đồng thời với hoạt động nghề nghiệp, là quá trình đào tạo và tự đào tạo trong thời gian làm việc, gắn với ý nghĩa học tập suốt đời. Khái niệm hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho đối tượng 3 -Khái niệm quốc phòng: Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học. của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự làm nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô[14]. Căn cứ theo Điều 2, Luật Quốc Phòng thì vấn đề này đuợc định nghĩa: Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt [37].

Quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với các lực lượng phản động bên trong, do đó quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức quốc phòng phụ thuộc trực tiếp vào chế độ xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện khách quan, chủ quan cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia.

-Khái niệm an ninh: Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội [14]. Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc [34] Theo từ điển Bách khoa CAND: An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia [2]. 14 An ninh có thể được hiểu theo nghĩa rộng, an ninh bao gồm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. An ninh quốc gia được biểu hiện ở sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và vị trí độc lập, tự chủ của chính quyền nhà nước đối với các nhà nước khác trên thế giới.

An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; an ninh quốc gia phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và quan hệ chính trị quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Quản Lý Bồi Dưỡng Kiến Thức Quốc Phòng & An Ninh Cho Đối Tượng 3 - Cục Đào Tạo Bộ Công An" tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong ngành công an. Tài liệu này không chỉ phân tích các phương pháp quản lý hiệu quả mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chương trình bồi dưỡng, từ đó giúp nâng cao năng lực cho cán bộ, chiến sĩ trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức và triển khai các khóa đào tạo, cũng như tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng trong bối cảnh hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Quan điểm và giải pháp cơ bản đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về sự cần thiết phải đổi mới trong giáo dục quốc phòng. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên ở các trường công an nhân dân cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc bồi dưỡng lý luận chính trị trong ngành công an. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp công vụ cho đội ngũ cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai sẽ mang đến những góc nhìn mới về kỹ năng giao tiếp trong công vụ, một yếu tố quan trọng trong công tác quản lý và bồi dưỡng cán bộ.