Chương 1, Hướng dẫn số 90/HD- HĐGDQPAN, ngày 31 tháng 05 năm 2016 của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương.Chức năng, nhiệm vụ của đối tượng 3 - Chức năng: Bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 là quá trình tổ chức truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những kiến thức quân sự, là sự tác động tích cực nhiều chiều đối với học viên, nhưng học viên ở đây là những cán bộ chủ trì, chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo, quản lý nhà nước ở cấp huyện và cấp tỉnh. Đây là nét nổi bật của quá trình bồi dưỡng và cũng là khó khăn, thách thức lớn đối với chủ thể quản lý trên ba phương diện: tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo; thực hiện chương trình nội dung; bảo đảm vật chất, phương tiện cho quá trình này. Như vậy, thực chất quá trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 là quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức, một bộ phận của hoạt động sư phạm nói chung, chức năng của nó là trang bị kiến thức QP&AN. Trên cơ sở phân tích khái niệm về đối tượng 3 đã trình bày trên, có thể thấy, đối tượng 3 có chức năng là đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp huyện; ở cấp phòng và tương đương thuộc cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh và của Trung ương có trụ sở trên địa bàn cấp tỉnh; Trong lực lượng vũ trang, là đội ngũ sĩ quan giữ chức vụ lãnh đạo cấp phòng, cấp huyện và tương đương; sĩ quan có cấp bậc quân hàm Thượng tá.
Với chức năng là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đối tượng 3 phải tiến hành đồng thời các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các tổ chức cấp trên; đề xuất, kiến nghị với cấp trên những vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo, quản lý đối với địa phương, đơn vị cấp mình. Trong hoạt động bồi dưỡng 11 kiến thức QP&AN, đối tượng 3 là đối tượng quan trọng, bởi đây chính là lực lượng sẽ tiếp tục chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng cấp dưới, theo đúng quy định của Luật giáo dục QP&AN. - Nhiệm vụ: Theo Quy định số 07/QĐ-HĐ GDQPANTW, 14/02/2008 về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên, quy định về nhiệm vụ của đối tượng 3 như sau: Nhiệm vụ chung:Học tập, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ, đảng viên; được bồi dưỡng kiến thức QP&AN là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên là một trong những tiêu chí xem xét, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, tổ chức các cấp, các ngành. Do vậy trong nhiệm kỳ công tác, cán bộ phải hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN tương ứng với chức danh cán bộ và được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức QP&AN theo Chương trình bồi dưỡng kiến thức QP&AN do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định.
Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương đến cơ sở, phải tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức QP&AN theo triệu tập của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về Giáo dục QP&AN [15]. - Nhiệm vụ cụ thể của đối tượng 3: Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về QP&AN trong từng giai đoạn cách mạng, nôi dung nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nắm vững âm mưu, thủ đoạn thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Nắm vững nội dung xây dựng khu vực phòng thủ ở địa phương; Có kiến thức cơ bản để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở, người đứng đầu cơ quan, tổ chức và tổ chức hiện thực có hiệu quả công tác QP&AN theo cương vị công tác được giao.Nhu cầu bồi dưỡng của đối tượng 3 Hiện nay, nhu cầu bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối với tất cả các đối tượng là vô cùng lớn. Đây không chỉ là chủ trương chung của Đảng, Nhà nước mà còn là yêu 12 cầu, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và trong cả hệ thống chính trị. Trong lực lượng CAND, nhu cầu bồi dưỡng kiến thức QP&AN đối với đối tượng 3 cũng là con số không hề nhỏ.
Số lượng nhu cầu bồi dưỡng mỗi năm đối với đối tượng 3, đều được Bộ Công an căn cứ trên đăng ký nhu cầu bồi dưỡng từ các đơn vị trực thuộc Bộ, Công an các tỉnh, địa phương…chỉ tính đến năm 2019, số lượng đối tượng 3 chưa qua bồi dưỡng của toàn lực lượng CAND là 1103 người [Phụ lục 01]. Tuy nhiên, số lượng khóa bồi dưỡng và số lượng học viên từng khóa trong các năm không đồng đều (có năm tổ chức được 8 khóa bồi dưỡng, có năm chỉ 03 khóa) mặc dù nhu cầu bồi dưỡng và số lượng cán bộ đối tượng 3 của LLCAND rất cao và khả năng đảm bảo của Cục Đào tạo có thể tổ chức mỗi năm từ 08 đến 10 khóa. Đặc điểm này là do tính đặc thù của đối tượng 3 và đặc thù công tác nghiệp vụ của lực lượng nên hoạt động mở lớp cũng như nhu cầu đăng ký bồi dưỡng đôi khi còn hạn chế. Hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 3 1.
Khái niệm hoạt động bồi dưỡng và hoạt động bồi dưỡng kiến thức QP&AN cho đối tượng 3 1. Khái niệm hoạt động bồi dưỡng Theo Từ điển giáo dục học năm 2011: “Bồi dưỡng là quá trình giáo dục, đào tạo thêm nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn”, cụ thể hơn: “Bồi dưỡng là trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể, ví dụ như bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lí luận, nghiệp vụ sư phạm” [41]. Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, một bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ ” [20]. Từ các luận điểm trên, tác giả cho rằng khái niệm bồi dưỡng được nhìn nhận theo nhiều góc độ và mức độ rộng hẹp khác nhau, nhưng chung quy lại có thể coi bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng nhằm nâng cao tay nghề cho người lao động, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của tổ chức.
13 Như vậy, bồi dưỡng được hiểu là quá trình học tập của mỗi người diễn ra đồng thời với hoạt động nghề nghiệp, là quá trình đào tạo và tự đào tạo trong thời gian làm việc, gắn với ý nghĩa học tập suốt đời. Khái niệm hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho đối tượng 3 -Khái niệm quốc phòng: Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học. của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự làm nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô[14]. Căn cứ theo Điều 2, Luật Quốc Phòng thì vấn đề này đuợc định nghĩa: Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt [37].
Quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với các lực lượng phản động bên trong, do đó quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức quốc phòng phụ thuộc trực tiếp vào chế độ xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện khách quan, chủ quan cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia.
-Khái niệm an ninh: Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội [14]. Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc [34] Theo từ điển Bách khoa CAND: An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia [2]. 14 An ninh có thể được hiểu theo nghĩa rộng, an ninh bao gồm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. An ninh quốc gia được biểu hiện ở sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và vị trí độc lập, tự chủ của chính quyền nhà nước đối với các nhà nước khác trên thế giới.
An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; an ninh quốc gia phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và quan hệ chính trị quốc tế.