Đặt vấn đề An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện và được bàn đến khá nhiều trong thời gian gần đây. Đây là mối quan tâm lớn của các quốc gia dân tộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trong nhiều nội dung của các quan hệ hợp tác song phương và đa phương (Nguyễn Mạnh Hưởng, 2011). Tuy nhiên, cho đến nay, việc nhận thức và xác định những vấn đề ANPTT vẫn tồn tại những khác biệt đáng kê. Tùy thuộc vào cách nhìn nhận, góc độ, lĩnh vực tiếp cận, hoàn cảnh cụ thể mà từng nhà nghiên cứu đưa quan niệm khác nhau về ANPTT (Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 2016).
Trong số các lĩnh vực của ANPTT, an ninh năng lượng (ANNL) nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Đảm bảo ANNL có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia. Khái niệm về ANNL được bắt đầu đề cập đến từ thập niên 70 của thế kỷ trước, đặc biệt là giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973-1974. Trong giai đoạn này, ANNL được hiểu theo nghĩa hẹp đồng nghĩa với “an ninh dau lửa”, tức là đảm bảo khả năng tự cung cấp đầu ở mức cao nhất đồng thời giảm mức nhập khẩu dầu và kiểm soát được những nguy cơ đi kèm việc nhập khẩu (Tạ Ngọc Tắn, 2015).
Ngày nay, sự nóng lên của trái đất và sự thay đổi của khí hậu toàn cầu làm cho các quốc gia dần thay đồi cách nhìn về an toàn năng lượng. Do đó, nội hàm ANNL đã thay đổi, ANNL được xem là van đề tồn tại song song với duy trì sự phát triển ôn định và bền vững. ANNL đối với một quốc gia khu vực hiện nay phải gắn liền với duy trì phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo trạng thái môi trường. Trải qua nhiều tranh luận, khái niệm ANNL hiện nay có thé được hiểu một cách chung nhất đó là “sự đảm bảo đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và rẻ” (Hoàng Minh Hang, 2007).
Mặc dù vậy, một số nghiên cứu cho rằng, khái niệm ANNL vẫn còn chưa rõ ràng, và điều này gây khó khăn cho việc đo lường và đánh giá (Winzer, 2015; Léschel, 2010; Kruyt, 2009). Nhận biết được tầm quan trọng của ANNL, đã có nhiều nghiên cứu xem xét các khía cạnh và nội dung khác nhau của ANNL (tiêu biểu là các nghiên cứu của Cheng, 2008; Coq và Paltseva, 2009; Sovacool, 2011; Mansson, 2014; Brown và các cộng sự, 2014; Cherp và Jewell, 2014; Ren và Sovacool, 2014; Winzer, 2015; Tạ Ngọc Tấn, 2015). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác nhau liên quan tới ANNL trên thé giới, nhưng số lượng các nghiên cứu liên quan tới ANNL của Việt Nam còn rất hạn chế và chủ yếu dựa trên các phân tích định tính. Mục tiêu Mục tiêu của nghiên cứu như sau: - Nghiên cứu co sở lý luận về ANPTT nói chung và ANNL nói riêng, cụ thể làm rd i hàm khái niệm ANPTT va ANNL.
- Đánh giá thực trạng những vấn đề ANPTT của Việt Nam hiện nay, trong đó tap trung đánh giá thực trạng ANNL trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam. - _ Tổng hợp, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ANNL của Việt Nam - Đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho cơ quan chức năng tại Việt Nam trong việc hoạch định chính sách nhằm đảm bảo nên kinh tế - xã hội phát triển bên vững trong tiến trình hội nhập quốc tế. Phương pháp nghiên cứu 3. Phương pháp thu thập dữ liệu Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế, hai nhóm nhân tố (nguy cơ) gây mat ANNL gồm: nhóm nhân tố tác động (thang do) từ nguồn cung năng lượng (S) và nhóm nhân tổ tác động (thang đo) từ cầu năng lượng (D).
Cụ thể, nhóm nhân tố ảnh hưởng tới nguồn cung năng lượng gồm: Sự cạn kiệt nguồn nguyên/nhiên liệu hóa thạch (S1), Bất ồn chính trị trên thế giới và trong khu vực (S2), Phụ thuộc nguồn nguyên/nhiên liệu nhập khâu (S3), Nguy cơ tội phạm, khủng bố tại các cơ sở cung cấp điện (S4), Biến đổi khí hậu (thiên tai) (S6), Ngành công nghiệp năng lượng chậm phát triển (S6), Hiệu quả của quá trình khai thác, sản xuất năng lượng chưa cao (S7), Công nghệ phục vụ phát triển ngành năng lượng còn lạc hậu so với thế giới (S8), Các nguồn năng lượng mới chưa được khuyến khích phát triển (S9); nhóm nhân tố ảnh hưởng tới cầu năng lượng gồm: Gia tăng cầu năng lượng trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam (DI), Gia tăng cầu năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam (D2), Sự gia tăng của cầu năng lượng trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam (D3), Gia tăng cầu năng lượng trong sinh hoạt của người dân (D4), Nguồn năng lượng chưa được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả (D5), Mức giá đối với các mặt hàng năng lượng là thấp (D6). Trong nghiên cứu nay, phương pháp điều tra xã hội học thông qua sử dung phiếu khảo sát được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp. Thang đo likert 5 được sử dụng trong bảng hỏi, trong đó “5 = rất đồng ý” va “1 = rất không đồng ý”. Bảng hỏi được gửi tới các chuyên gia và nhà quản lý thuộc lĩnh vực liên quan tới năng lượng.
Dữ liệu thu được từ bảng hỏi sẽ được làm sạch và phân tích sử dụng mô hình cấu trúc mạng (AMOS) nhằm xác định nhóm nhân tố ảnh hưởng ANNL. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu phi xác suất. Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, đối tượng được chọn những phan tử (đối tượng nghiên cứu) có thé tiếp cận được (Nguyễn Dinh Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là các cán bộ làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên.
Theo Hair và các cộng sự (1998), để thực hiện được phân tích nhân tố EFA thì kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu phải tối thiểu là gấp 5 lần tổng sé biến quan sát. Bài nghiên cứu có 20 biến quan sát, như vậy số mẫu tối thiểu là 20*5 = 100; Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996). Nghiên cứu có 3 biến độc lập, do vậy kích thước mẫu tối thiểu là: 50+8*3 = 74 quan sát. Như vậy, tong số mẫu trong nghiên cứu là 103 hoàn toàn phù hợp với yêu cầu được đặt ra và đảm bảo tính đai diện cho tổng thể.
Phương pháp phân tích cấu trúc mạng Các thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua 2 công cụ chính là hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA. Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp trước. Các biến có hệ số tương quan biến tổng (Item - Total correlation) nhỏ hơn 0.30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0. Tiếp theo, phương pháp EFA được sử dụng.
Trong phần này, các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.40 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại. Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Gerbing và Anderson, 1988). Cuối cùng, thang đo được đánh giá lại bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA. thông qua phần mềm phân tích cấu trúc tuyến tính AMOS2I.
Mô hình phân tích thứ bậc (AHP) Trong nghiên cứu này, phương pháp AHP mở rộng (đề xuất bởi Chang, 1996) được sử dụng dé xác định trọng số của các nhân tố ảnh hưởng tới ANNL. Mô hình này sử dụng biến ngôn ngữ để biểu diễn các đánh giá so sánh được đưa ra bởi hội đồng ra quyết định., xu} là tập hợp của n đối tượng; G = {gi, g2, ., Ym} là tập hop của m mục tiêu so sánh. Theo phương pháp của Chang (1996) thì mỗi một đối tượng x được biéu diễn tương ứng với một đối tượng so sánh, ký hiệu là: gi. Theo đó, mỗi đối tượng x¡ sẽ được so sánh với mục tiêu, ta ký hiệu như sau: M1 Mi eM” ;với i=1,2,.
Bước 1: Tinh giá trị của số mo tổng hop cho đối tượng thứi theo công thức: i=l j=l (ly Trong do: ial FA A i=l j=l ll i=l (2) Bước 2: Tinh mức độ có thể của quan hệ so sánh giữa 2 giá trị: Y(S, >S,)=Sup[ min(„ (+), Hy, (9)] (3) 1 if m>m, Theo đó, V(S,>§,)= {0 l,>m i, = im, others 4 Bước 3: Tính mức độ có thê của khả năng xảy ra quan hệ một số tốt hơn các số còn lại: V(S>S,S,. Trọng số chuẩn hóa: 7 W, W =((A),4(A,).d(A,))” & Wa >ụ, i=l @) Khi đó ta có W là một số không mờ. Tổng kết kết quả nghiên cứu 4. Nội hàm của an ninh phi truyền thong Các nhà nghiên cứu đã chia an ninh thình hai lĩnh vực lớn ANTT và ANPTT (Trương Minh Huy Vũ, 2016).
Trong khi ANTT chủ yếu nhắn mạnh tới an ninh quốc phòng với biện pháp đảm bảo quân sự và ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia thì ANPTT lại tập trung vào các nguy cơ rât đa dạng đe dọa cuộc sống của cá nhân, cộng đồng và quốc gia dân tộc từ các nguồn phi quân sự. Những mối đe doạ này không phải chỉ đến từ bên ngoài mà còn đến từ bên trong của một quốc gia như thương mại, ô nhiễm môi sinh, biển đổi khí hậu, thiên tai, bệnh tật, nghèo đói, di dân.ANPTT đã được các học giả quốc tế như Caballero-Anthony (2010) định nghĩa là những thách thức đối với sự tồn tại và hạnh phúc của các dân tộc và các quốc gia chủ yếu bắt nguồn ngoài yếu tố quân sự, như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và cạn kiệt nguồn tài nguyên, các bệnh truyền nhiễm, các thảm họa tự nhiên, di cư bất thường, thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy, và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia. Tương tự với quan điềm trên, Amitav Acharya cho rằng an ninh phi truyền thống là “các thách thức đối với sự tồn vong và chất lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cư không kiểm soát, thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy và tội phạm có tổ chức”.