thé gây 6 nhiễm phải chi trả và định giá carbon dioxide va các loại KNK. Điều này có thê được thực hiện thông qua thuế carbon (được gọi là công cụ giá) hoặc giới han phát thải va giao dịch mua bán quyền phát thai (được gọi là công cụ số lượng). Các quy định về kinh doanh phát thải trong Nghị định thư Kyoto và Thoả thuận Paris là sự phản ánh nguyên tắc PPP. Nghị định thư Kyoto và Thoả thuận Paris cho phép các bên ký kết tiến hành hoạt động mua bán tín chỉ phát thai dé đáp ứng những nghĩa vụ của mình theo quy định của điều ước.
Mỗi tín chỉ phát thải tương đương với I tan CO2. Theo đó, dé không vi phạm nghĩa vụ về hạn mức phát thải KNK mà Nghị định thư Kyoto đã ấn định cho từng bên ký kết cũng như thực hiện đúng cam kết về cắt giảm phát thải KNK mà mỗi quốc gia đã đưa ra trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định dé thực hiện mục tiêu của Thoả thuận Paris, quốc gia có nhu cầu phát thải cao hơn giới hạn đã được ấn định hoặc chưa có khả năng giảm nhẹ phát thải như đã cam kết có thé mua hạn mức phat thải từ các quốc gia khác có lượng phat thải “dư thừa”. Nói cách khác, trong trường hợp có lượng phát thải KNK cao, quốc gia phải trả tiền để mua hạn mức phát thải từ các quốc gia khác nhằm tuân thủ đầy đủ cam kết của mình về giảm nhẹ phát thải. Nguyên tắc minh bach Minh bạch hiểu một cách đơn giản là “mức độ thông tin được cung cấp công khai trong một hệ thống xã hội nhất định”.2° Yêu cầu minh bach trong luật môi trường có ý nghĩa quan trọng vì những tác động của thiệt hại môi trường đôi với sức khỏe con người và cộng đông.
Coase (2010), “The Problem of Social Cost”, Journal of Law and Economics, Vol. Wong, ‘What Drives Global E-Governance? An Exploratory Study at Macro Level’, conference paper presented at the Proceedings of the 38th Annual Hawaii International Conference on System Sciences (HICSS’05) — Track 5, Island of Hawaii (Big Island), 3-6 Jan. 2005, available at: http://www. Meijer, ‘Does Transparency Strengthen Legitimacy? A Critical Analysis of European Union Policy Documents’ (2006) 11(2) Information Polity, pp.
Hunter, ‘The Emerging Norm of Transparency in International Environmental Governance’, in P. Vaughn, Research Handbook on Transparency (Edward Elgar, 2014), pp. 234 Trong hoạt động kinh doanh phát thải, việc mình bạch thông tin giúp cho các thiết chế có thâm quyền đánh giá được chính xác mức độ tuân thủ của các bên ký kết đối với các nghĩa vụ được quy định trong điều ước, từ đó, áp dụng những biện pháp tương ứng để điều chỉnh khi có hành vi vi phạm, qua đó góp phần đảm bảo đạt được những mục tiêu mà điều ước đề ra. Ví dụ khi một quốc gia thành viên của Thoả thuận Paris tiến hành việc bán một số tín chỉ phải thải dưới hình thức ITMO cho một quốc gia thành viên khác của Thoả thuận Paris nhưng lại vẫn tính kết quả giảm nhẹnày trong việc đóng góp vào mục mục NDC của mình.
Điều này khiến cho lượng phát thải thực tế không giảm mà con tăng lên khi cả bên bán và bên mua đều sử dụng kết quả giảm nhẹnày để đạt được mục tiêu của mình, và hậu quả là không đạt được mục tiêu mà Thoả thuận Paris đã ghi nhận. Một ví dụ khác là quốc gia chuyên nhượng đơn vi phat thải vượt quá giới hạn dự trữ trong thời hạn cam kết như quy định của Nghị định thư Kyoto, dẫn đến làm giảm khả năng đáp ứng cam kết về cắt giảm phát thải. Tình trạng này có thé hạn chế được nếu có những quy định yêu cầu quốc gia phải công khai thông tin về việc mua bán tín chỉ phát thải thông qua một cơ chế báo cáo chung được quy định cụ thể trong điều ước, trong đó quy định rõ về nội dung, hình thức, yêu cầu trong báo cáo cũng như quy trình xem xét, thẩm định những thông tin mà các bên ký kết đệ trình. Nguyên tắc minh bạch trong điều chỉnh pháp lý đối với hoạt động kinh doanh phát thải quốc tế được thé hiện ở một hệ thống các quy định về báo cáo, cung cấp thông tin được ghi nhận trong các quyết định được thông qua tại cuộc họp của Hội nghị các bên thành viên của Nghị định thu Kyoto va Thoả thuận Paris.
Vi dụ theo quy định tại Nghị định thư Kyoto, các bên ký kết sẽ phải nộp thông tin về việc chuyển nhượng các đơn vị phát thải trong báo cáo hàng năm theo một định dạng chung được quy định như thông tin về những giao dịch đã thực hiện, các đơn vị phát thải đã chuyên nhượng, thông tin về việc tính toán các đơn vị phat thải, các giao dịch đã được Nhật ky giao 235 dịch quốc tế xác định có sự khác biệt với các quy định của Nghị định thư Kyoto. dé nhóm chuyên gia đánh giá tiến hành xem xét. Tương tự, Thoa thuận Paris cũng có quy định về đệ trình các loại báo cáo liên quan đến hoạt động mua bán ITMO, bao gồm báo cáo ban đâu, thông tin hàng năm, thông tin định kỳ theo các thể thức và nội dung nhất định để nhóm chuyên gia xem met. Nguyên tac đảm bảo tính toàn vẹn về môi trường Thoả thuận Paris thiết lập các điều khoản cho việc sử dụng các cơ chế thị trường carbon quốc tế dé đạt được những đóng góp giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Tính toàn vẹn về môi trường là nguyên tắc chính để sử dụng các cơ chế như vậy theo Thỏa thuận.”? Thuật ngữ “toàn vẹn môi trường” được sử dụng trong các quyết định khác nhau được thông qua trong khuôn khổ Hội nghị các bên của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris nhưng không được định nghĩa.2 của Thỏa thuận Paris đề cập đến việc “thúc day” và “đảm bảo” sự toàn vẹn về môi trường. Các quy định của cơ chế Điều 6.4 không dé cập cụ thé đến tính toàn vẹn của môi trường, nhưng bao gồm một số yếu tố nhằm bảo vệ tính toàn vẹn của môi trường, chăng hạn như các lợi ích giảm nhẹlà “thực tế, có thé đo lường được và lâu đài”; “tính bô sung” được đảm bảo và việc giảm phát thải phải được “thâm định và chứng nhận bởi các tổ chức hoạt động được chỉ định”. Tính toàn vẹn về môi trường cũng được đề cập đến trong các phần khác của Thỏa thuận Paris và quyết định thông qua (Điều 4.13 và các đoạn 92 và 107 của quyết định 1/CP. Căn cứ vào việc xem xét các đệ trình và tài liệu trong khuôn khô Hội nghị liên chính phủ về biến đổi khí hậu năm 2014 và đặt trong mối liên hệ với các mục tiêu của Thoả thuận Paris, có thê hiéu, tính toàn vẹn vê môi trường là 2# Lambert Schneider & Stephanie La Hoz Theuer (2019) Environmental integrity of international carbon market mechanisms under the Paris Agreement, Climate Policy, 19:3, 386-400, DOI: 10.1521332 236 yêu cau trong đó việc tham gia chuyển giao quốc tế dẫn đến tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu không cao hơn so với trường hợp không có hoạt động mua bán phát thải.”? Nguyên tắc tính toàn vẹn về môi trường được thể hiện trong Thoả thuận Paris gồm những nội dung sau: Ti nhất, đảm bảo việc tính toán chính xác các đơn vị phát thải trong việc chuyển nhượng, gồm các điều khoản dé đảm bảo kiểm toán chặt chẽ don vị phát thải như Điều 4.13 yêu cầu các quốc gia phải “giải trình cho các NDC của mình”, Điều 6.2 yêu cầu các quốc gia tham gia hoạt động kinh doanh phát thải phải “áp dụng kiểm toán chặt chẽ để đảm bảo, ngoài những điều khác, tránh tính trùng”, Điều 6.5 yêu cầu các kết quả giảm nhẹ phát thải theo Điều 6.4 chỉ được sử dụng bởi một Bên để đạt được NDC của mình, các điều khoản quy định về các yếu tố để kiểm soát việc chuyển nhượng như đăng ký điện tử hoặc nhật ký giao dịch quốc tế.
Thứ hai, đảm bảo chất lượng các đơn vị phát thải thong qua các quy định về quy tắc, thể thức và thủ tục của Điều 6.4; Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu giảm nhẹ đầy tham vọng và toàn bộ nền kinh tế.3 của Thỏa thuận Paris kêu gol “sự tiễn triển” của các NDC phản ánh “tham vọng cao nhất có thể” và Điều 4.4 khuyến khích các nước đang phát triển dần hướng tới các mục tiêu của toàn bộ nền kinh té.?5° Đến nay, kinh doanh phát thải vẫn được coi là một cơ chế có thể góp phan thực hiện mục tiêu giảm phát thai KNK, ứng phó với biến đổi khí hậu. Mặc dù cơ chế này có bộc lộ một số hạn chế nhưng điều này không đồng nghĩa rằng thị trường mua bán phát thải là một cơ chế thất bại. Khi tam quan ? Lambert Schneider & Stephanie La Hoz Theuer (2019) Environmental integrity of international carbon market mechanisms under the Paris Agreement, Climate Policy, 19:3, 386-400, DOI: 10.1521332 250 Lambert Schneider & Stephanie La Hoz Theuer (2019) Environmental integrity of international carbon market mechanisms under the Paris Agreement, Climate Policy, 19:3, 386-400, DOI: 10.1521332 237 trọng và tính hiệu quả đã được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, cơ chế này cần phải được đút kết kinh nghiệm và hoàn thiện từ quá trình xây dựng đến thực thi đối với hoàn cảnh và trình độ phát triển của từng quốc gia riêng biệt và đặc biệt là những điều chỉnh hợp lý với các thay đổi thực tế theo thời gian. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Newell, và Robert N. Stavins, “Environmental Policy and Technological Change”, Environmental and Resource Economics 22, no.B, “Comment: Reforming Environmental Law”, Stanford Law Review 37(Š): 1333-65, 1985 3. Denny Ellerman, David Harrison Jr. Joskow (2003), Emission Trading in the US 4.
Andreas Tuerk, Elizabeth Zelljadt (2016), “The global rise of emissions trading”, Climate Policy Info Hub 5. Andreas Tuerk, Michael Mehling, Sonja Klinsky, Xin Wang (2013), Emerging Carbon Market: Experiences, Trends and Challenges, Climate Strategies 6. Australia Academy of Science, https://www. Bui Thu Hiền, Vũ Trung Kiên (2018), “Các yếu tố cần thiết để xây dựng thị trường mua bán quyền phát thải khí trong tương lai”, Tạp chi tài chính, 2018 8.M, “The United Nations Framework Convention on Climate Change: A commentary”, Yale Journal of International Law 18(2):451-588 9.
Climate change 101: Understanding and Responding to Global Climate Change, Pew Center on Global Climate Change, 01/2011. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) 238 11. Carbon Tax Center, https://www. CBC News, Australia's carbon tax repealed after 2 years, 2014 13.
Clean Development Mechanism, https://cdm. Dallas Burtraw va Michael Themann (2018), Pricing Carbon Effectively: Lessons from the European Emissions Trading System.