Bộ luật Dân sự của Việt Nam năm 2015. Đặng Đình Quý, “Bàn thêm về khái niệm “hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tap chí Cộng sản, nguồn: https://tapchicongsan.vn/web/guest/nghien-cu/- /2018/19013/ban-them-ve-khai-niem-%E2%80%9Choi-nhap-quoc-te%E2%80%9D-cua-viet- nam-trong-giai-doan-moi.aspx, truy cập ngày 07/5/2021. Từ điển Bách khoa toàn thư mở WikipediA. Trần Thị Bích Hà, “Quyên chuyển đổi giới tính quy định tại BLDS năm 2015”, Công thông tin điện tử Viện kiếm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, nguồn: http://vkscantho.vn/vkscantho/ndex.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Quyen-chuyen-dor-gior-tinh- qui-dinh-tai-Bo-luat-dan-su-nam-2015-1208/, truy cập ngày 10/05/2021.
Trương Hồng Quang, “Dé guyén thực sự là quyên”, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vu Quốc hội, nguồn: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210587, truy cập ngày 10/05/2021. Trương Hồng Quang, “Pháp luật một số quốc gia trên thé giới về quyên của người đồng tính”, nguồn: https://thongtinphapluatdansu.vn/2012/08/06/php-luat-mot-so-quoc-gia- the-gioi-ve-quyen-cua-nguoi-dong-tnh/, truy cập ngày 10/5/2021. Hà Thị Ngọc, “Chính sách hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước van đề toàn cầu hoá”, Công trinh dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học ”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002. Nguyễn Văn Hợi, “Khái niệm, đặc điểm và bản chất của chuyển đổi giới tính”, Tạp chí Luật học, sô 2/2019, tr.
Đỗ Văn Đại và Ngô Thị Vân Anh, “Điều kiện và hệ qua của chuyền đổi giới tính trong pháp luật Việt Nam”, Tap chí Nghiên cứu lap pháp, số 6/2016. Dang Hoàng Hiệu, “Quyên con người của người đông tính, song tính va chuyên giới - Một số vấn đề lý luận và thực tiên”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường ~ ` 9D Đại học Luật Hà Nội, 2015. Nguyễn Lan Anh, “Quyền của nhóm LGBT - Một số van dé lý luận và thực tiễn”, dé tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Dai học Luật Hà Nội, 2015., Impact of Civil Marriage Recognition for Long-Term Same-Sex Couples, Sexuality Research & Social Policy: A Journal of the NSRC, Vol 14(2), Jun, 2017. Christoph Gusy, Freiheitsrechte als subjektive Rechte ZJS 2008, S.
Dang Dũng Chi, Hoàng Văn Nghĩa, “Xây dung và hoàn thiện các thiết chế bảo đảm quyên con người ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển”, Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, nguồn: http://lapphap.vn/Pages/tntuc/tinchitlet.aspx?tntucid=207447, truy cập ngày 19/05/2021. 314 LGBT PEOPLE’S RIGHTS IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION IN VIETNAM Au Thi Huyen* In the context of current international integration, issues regarding human rights receive attention from a number of countries in the world with implementation guaranteed mechanism. Until now, the issue on LGBT attracts numerous different opinions. General Secretary of the United Nations Ban Ki-moon announced: "Human rights is the core mission of the United Nations, since the date of 26/06/2014, the United Nations has recognized same-sex marriage of employees over the world.
In detail, the United Nations recognizes same-sex relationships including “marriage” and “civil combination” of employees of this organization in the globe. Recently, Switzerland has carried out a referendum on legalization of same-sex marriage to allow homosexual couples to get married, which received the prevailing agreement of 64.1% of Swiss people, paving the way for the legalization of same-sex marriage. Along with this tendency, Vietnam law has had appropriate steps to ensure proper rights of LGBT group in the society. The Civil Code 2015 recognizes the right to gender transformation.
This article uses the combination of different scientific methods such as: Comparison, analysis, logical reasoning, interpretation, synthesis, socializing investigation. on the ground of combining theory and practicality to clarify the theoretical, legal and practical issue on human rights in general and LGBT people’s rights in particular, hence affirming that LGBT people are completely normal people with full rights as others, and therefore submitting petitions compatible to the context of international integration. Currently, with achievements from the active international integration, Vietnam is gradually receiving the trust and assistance of countries in the world, along with new international roles, Vietnam shall have the opportunity to learn from legislative experience of several nations to solve problems arising in the law process for LGBT people. * Postgraduate student course 28.
nho MOT SO VAN DE VE XÂM PHAM QUYEN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DOI VOI NHAN HIEU TRONG MOI TRUONG INTERNET TS. Nguyén Nhw Quynh* NCS. Hoang Tién Minh** Tóm tat: Internet xuất hiện tai Việt Nam năm 1977 và liên tục đạt tốc độ tăng trưởng caol, diéu này dang làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội và có tác động trực tiếp đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Trong đó, nhãn hiệu là một trong những doi tượng của quyên sở hữu trí tuệ dé dang bị xâm phạm trong môi trường Internet, gây anh hui lơng xấu đến doanh nghiẹ' Ìp, ngui \ơi tiêu dùng và sự phát triển kinh tế - xã hoi cua đất nước.
Việc xác định các dạng hành vi xâm phạm quyên sở hữu công nghiệp doi với nhãn hiệu trong môi trường Internet có nhiều đặc thù và phức tạp, gây khó khăn trong quá trình xử lý. Bài viết dựa trên các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, phân tích những căn cứ xác định các dạng hành vi xâm phạm quyên sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường Internet, đánh giá khó khăn, bất cập và dua ra một số kiến nghị, giải pháp. Từ khoá: Quyên sở hữu trí tuệ, quyên sở hữu công nghiệp, nhăn hiệu, thương mại điện tứ, Internet, cách mạng công nghiệp 4. Khái quát chung về Internet và nhãn hiệu e Internet Internet có thé được hiểu là mạng kết các mạng dựa trên giao thức gọi là TCP/IP (viết tắt của Transmission Control Protocol/Internet Protocol) do Advanced Research Projects Agency (ARPA) của chính phủ Hoa Kỳ phát minh vào năm 1969 và ban đầu được gọi là ARPANet.
Mục đích dau tiên của mạng Internet là dùng dé trao đôi thông tin và nghiên cứu khoa học các trường đại học tại Hoa Kỳ. Cho đến nay, Internet đã trở thành một cơ sở công cộng, cùng tham gia và tự duy trì cho phép hàng trăm triệu người trên toàn thế giới cùng lúc truy cập, trong mọi lĩnh vực giáo dục, văn hoá, chính trị, quân sự,. Sự độc lập tương đối của Internet đối với các cơ sở hạ tầng truyền thống (giao thông, đường sá,.) với biên giới và các nghiệp vụ đã cho phép nó có một tốc độ tăng trưởng đặc biệt nhanh.? Tại Việt Nam, ngày 19/11/1997 chính thức hoà vào mạng Internet toàn cầu và * Phó Chánh thanh tra - Bộ Khoa học và công nghệ ** NCS250304 chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự ' Cụ thể, tính đến tháng 12/2020, Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thé giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số), Xem Báo cáo tổng quan digital tại Việt Nam năm 2020 https://adtimes.vn/global-digital-2020-report/ truy cập ngày 1/3/2021 2 Ao Thu Hoài, Nguyễn Viết Khôi (2015), “Thương mại điện tử”, Nxb.Thông tin và truyền thông, tr. 316 ngày 1/12/1997 chính thức cung cấp dịch vụ Internet.
Kê từ thời điểm đó đó, tốc độ tăng trưởng của Internet đã là một yếu tô cốt lõi thúc đây sự phát triển tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt đối với hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam. Theo Báo cáo tổng quan Digital Việt Nam năm 20203, tính đến tháng 12/2020, Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thé giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số). Mạng Internet đã tạo ra rất nhiều cơ hội để các doanh nghiệp truyền đạt thông điệp của mình thông qua nhãn hiệu của họ. Internet đã tạo ra hàng loạt những cơ hội dé doanh nghiệp có những kết nối toàn cầu, kết nối mở, sự đa dạng về cách thức kết nối, tuy nhiên, nó cũng đồng thời tạo cơ hội cho sự lạm dụng nhãn hiệu và danh tiếng của doanh nghiệp hoặc những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra trong môi trường Internet.
e Nhãn hiệu “Nhãn hiệu là dấu hiệu dung dé phan biét hang hoa, dich vu vua cac tổ chức, cd nhân khác nhau ”“ Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Điều 72, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đối bổ sung năm 2019 (sau đây gọi là Luật SHTT) là: “1, Là dau hiệu nhìn thấy được dưới dang chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tô đó, được thé hiện bằng một hoặc nhiễu mẫu sắc; 2. Có kha năng phan biệt hàng hoá, dich vụ cua chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác ”. Như vậy, theo quy định tại điều 72 Luật SHTT, một dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu theo pháp luật SHTT nếu có đủ hai điều kiện: Ä⁄2/ Ja, dấu hiệu đó là dấu hiệu nhìn thay được dưới dang chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, ké cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tô đó, được thé hiện bằng một hay nhiều màu sắc; Hai là, dẫu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dich vụ của chủ thê khác. Trên thực tế, bên cạnh các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp khác như kiêu dáng công nghiệp hay sáng chế, nhãn hiệu là đối tượng dé bị xâm phạm trong môi trường Internet, đặc biệt trong hoạt động thương mại điện tử.
Nhãn hiệu là yếu tố chiếm vị trí quan trọng đối với chủ sở hữu đối với hoạt động trong môi trường thương mại điện tử, bởi vì, nhãn hiệu mang lại danh tiếng va bản sắc cho doanh nghiệp đối với sự phát triển trong môi trường thương mại điện tử, do đó, những tranh chấp quyền 3 Xem Báo cáo tong quan digital tại Việt Nam năm 2020 https://adtimes.vn/global-digital-2020-report/ truy cập ngày 1/5/2021. ¬ * Xem Điêu 4, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đôi bô sung năm 2019). 317 SHCN đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử gia tăng nhanh chóng." Không gian kinh doanh trên môi trường trực tuyến nhờ có Internet đã diễn ra và thay đôi rất nhanh chóng, và các doanh nghiệp cần phải có chiến lược bảo vệ thực sự hiệu quả nếu không họ sẽ phải chạy theo sau những kẻ xâm phạm quyên sở hữu trí tuệ trên môi trường thương mại trực tuyén.° Hon nữa, nhãn hiệu là đối tượng dễ sao chép, dễ dàng mã hoá băng dữ liệu điện tử và truyền đi trong môi trường Internet, cũng như mang lại ích kinh tế một cách dễ dàng và nhanh chóng cho chủ thể có hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Do đó, để có những biện pháp phát hiện và xử lý những hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong môi trường Internet kip thời, trước hết cần nắm được các căn cứ xác định hành vi đó.