Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUẬN VE QUAN LY NHÀ NƯỚC TREN TUYEN BIEN GIGI DAT LIEN CUA BO DOI BIEN PHONG VIET NAM 1. QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TREN TUYẾN BIEN GIỚI DAT LIEN Biên giới quốc gia là một phạm trù lich sử, sự ra đời của biên giới quốc gia gan liền với sự ra đời của nhà nước. Khi các quốc gia cổ đại đầu tiên ra đời, giữa các quốc gia còn phần lãnh thổ vô chủ thường là những chướng ngại vật tự nhiên như: rừng, núi, sa mạc, sông hồ. phần lãnh thổ vô chủ đó gọi là miền biên giới hay miền biên thuỳ, hình thức sơ khai đầu tiên của biên giới quốc gia.
Cùng với việc hình thành nhà nước, các quốc gia không ngừng củng cố và mở rộng lãnh thổ của mình, lãnh thổ vô chủ bị thu hẹp lại, lãnh thổ quốc gia ngày càng xích lai gần nhau dẫn tới đường biên giới. Các đường biên giới đầu tiên thường nằm trùng với ranh giới công xã, làng mạc, thành phố hay các bức thành, vách đá, có chức năng chủ yếu để phân chia lãnh thổ trên mặt đất. Tại điều 4 Hiệp ước BGDL giữa nước Cong hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực ngày 6 tháng 7 năm 2000 quy định: “Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam va Trung Quốc nói tại Điều II của Hiệp ước này phân định vùng trời và lòng đất giữa hai nước” [2. Điều | luật biên giới quốc gia nước Cộng hoà XHCN Việt Nam được Quốc hội Khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 có hiệu lực từ ngày | tháng | năm 2004 quy định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”[7|.
Từ khái niệm biên giới quốc gia có thể rút ra: 11 - Biên giới quốc gia là giới han lãnh thổ của một quốc gia. - Biên giới quốc gia là cơ sở xác định chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia đối với lãnh thổ. Lãnh thổ quốc gia được cấu thành bởi ba bộ phận chính: vùng đất, vùng nước, vùng trời, từ đó biên giới quốc g1a có: - Biên giới quốc gia trên đất liền. - Biên giới quốc gia trên biển.
- Biên giới quốc gia trên không. Biên giới quốc gia trên đất liền là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ đất liền của một quốc gia với một quốc gia khác, là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới kèm theo bản đồ. Biên giới quốc gia trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam với các nước láng giéng được xác định bằng hệ thống mốc quốc giới, Hiệp ước về hoạch định biên giới giữa Việt nam với các nước láng giềng cùng ban đồ, Nghị định thư kèm theo các hiệp ước đó {7}. Trên thực tế chỉ có đường biên giới trên đất liền là có hệ thống mốc quốc giới, các dấu hiệu xác định và cố định.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy thì việc quản lý, bảo vệ BGQG luôn được các quốc gia quan tâm, coi trọng và là một bộ phận của QLNN, do đó khái niệm QLNN về biên giới quốc gia phải xuất phát từ khái niệm của QLNN. Khái niệm quản lý nhà nước nói chung là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước [9. Hoặc quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước [9. Biên giới đất liền là một bộ phận không thể tách rời của biên giới quốc gia do vậy khái niệm QLNN trên tuyến BGDL xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước đối với biên giới quốc gia.
IZ Quản ly nhà nước đối với biên giới quốc gia là một bộ phận cha QLNN do vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của QLNN. Bên cạnh đó QLNN trên tuyến BGDL có một số đặc trưng riêng biệt đó là: Quản lý nhà nước đối với BGĐL luôn thể hiện quản lý chủ quyền lãnh thổ, trong quản lý chủ quyền lãnh thổ luôn tồn tại nhiều sự kiện khác nhau có ảnh hưởng rất quan trọng đối với độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc do vậy khi tiến hành QLNN đối với BGDL phải phân loại sự kiện biên giới lãnh thổ để tác động đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật vừa bảo đảm độc lập chủ quyền quốc gia vừa bảo đảm hợp tác quốc tế với các quốc gia khác. Quản lý nhà nước trên tuyến BGĐL phải phục vụ cho mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển chung của đất nước. Đồng thời phải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới.
Quản lý nhà nước đối với BGĐL là nhiệm vụ của Nhà nước là nghĩa vụ của toàn dân, BĐBP làm nòng cốt chuyên trách quản lý bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh trật tự trên BGDL. Phương tiện QLNN đối với BGDL là pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế. Trong quản lý nhà nước trên tuyến BGDL thì đường biên giới quốc gia luôn được các quốc gia đặc biệt quan tâm coi trọng quan lý. Đường biên giới quốc gia được xác định bằng các điều ước quốc tế và pháp luật trong nước kèm theo bản đồ, biên bản ghi nhớ, các tài liệu này phải được các cấp các ngành quan tâm đặc biệt và lưu trữ vĩnh viễn vì nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản lý, trong đàm phán thương lượng, hoạch định BGQG.
Từ phân tích trên đây ta có thể rút ra khái niệm QLNN đối với BGDL: “Là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà nước đối với các quá trình kinh tế xã hội và hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ kinh tế xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vu của nhà nước trong công cuộc bảo vệ và thực thi chủ quyền trên BGĐL[3. Các mối quan hệ phát sinh ở BGDL rất phong phú và đa dạng, có mối 13 quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật trong nước, có mối quan hệ có yếu tố nước ngoài vượt khỏi tam điều chỉnh của pháp luật quốc gia do đó phải được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế. Để thực hiện tốt việc QLNN bằng pháp luật đối với BGDL thì các chủ thể quản lý phải được đào tạo kiến thức quản lý bảo vệ biên giới, phải hiểu được ý nghĩa vai trò của pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lý đó là: Trước hết, phải xác định pháp luật là phương tiện bảo vệ chủ quyền, quyền tài phán quốc gia. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế, trên đất liền chủ quyền đó là riêng biệt, đầy đủ và tuyệt đối.
Khi có hệ thống pháp luật về quản lý bảo vệ BGĐL thì nó đảm bảo cho các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh hạn chế được vi phạm xảy ra trên biên giới và pháp luật là phương tiện để giải quyết các tranh chấp về biên giới giữa các nước có chung đường biên giới. Khi nói đến quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với đối với BGĐL luôn phải xác định cụ thể: chủ thể, khách thể, nội dung, hình thức, phương pháp QLNN. Chủ thể quản lý nhà nước trên tuyến biên giới đất liền. Khi nói đến chủ thể QLNN trên tuyến BGĐL tức là chỉ ra được “ai quản lý”.
Chủ thể của QLNN đối với BGĐL chính là các cá nhân, tố chức tham gia vào hoạt động QLNN đối với BGDL. Các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng QLNN, nhưng quan lý hành chính nhà nước thì chủ yếu và thường xuyên do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành. Trong các cơ quan nhà nước có đội ngũ cán bộ công chức hoạt động theo pháp luật, đây chính là lực lượng trực tiếp thực hiện chức năng QLNN theo nhiệm vụ, thẩm quyền của từng ngành, từng lĩnh vực do pháp luật quy định. Quản ly nhà nước trên tuyến BGDL là một dạng QLNN chuyên ngành do 14 đó chủ thể tham gia vào quản lý ở các mức độ khác nhau.
Mỗi cơ quan nhà nước đều có chức năng nhiệm vụ của mình vì vậy sự tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ biên giới phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, thẩm quyền của từng loại cơ quan nhà nước. Tuỳ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và vai trò của các cá nhân các tổ chức khác nhau trong xã hội mà các chủ thể đó tham gia vào QLNN đối với BGĐL với những vai trò khác nhau. Trong đó, các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL thì ban hành văn bản QPPL để xác lập nội dung, phạm vi tiến hành QLNN đối với BGDL. Các cơ quan có thẩm quyền giám sát thì thực hiện chức nang giám sát việc thực hiện văn bản QPPL đối với BGĐL.
Các cơ quan khác thì tổ chức thực hiện các văn bản QLNN đối với BGDL hoặc trực tiếp thực hiện việc quản lý theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được pháp luật quy định. Các tổ chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về BGĐL, giám sát việc thực hiện pháp luật đối với BGĐL của tổ chức, cá nhân. Các cơ quan nhà nước nói trên căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật sẽ tham gia vào hoạt động QLNN đối với BGDL nhằm phát huy hiệu quả QLNN. Khách thể quản lý nhà nước trên tuyến biên giới đất liền.
Trong quá trình QLNN trên tuyến BGDL các chủ thể luôn hướng tới những khách thể nhất định, khách thể của QLNN chính là các trật tự QLNN trên các lĩnh vực như: đất đai, an ninh, quốc phòng, xây dựng, giáo dục, y tế, thương mại, hải quan, lâm nghiệp, nông nghiệp.