Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hình sự của tác giả Đinh Thị Thảo Vân (người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Thanh Nhung, năm 2024) tiếp cận tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ thuật quân sự trong bối cảnh tình hình an ninh, trật tự xã hội diễn biến phức tạp. Thủ đoạn gây án của các đối tượng ngày càng tinh vi, tính chất liều lĩnh, manh động gia tăng và có xu hướng trẻ hóa độ tuổi phạm tội. Thực tế này đòi hỏi phải thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 – 2025 và định hướng đến năm 2030.

Bên cạnh tính chất nguy hiểm cao của hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng (VKQD), phương tiện kỹ thuật quân sự (PTKTQS), thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bộc lộ nhiều bất cập lý luận và vướng mắc thực tiễn. Cụ thể, việc tích hợp nhiều hành vi phạm tội độc lập trong cùng một điều luật, sự thiếu rõ ràng trong các quy định về đối tượng tác động, cùng những khoảng trống định lượng trong việc xác định tình tiết định khung tăng nặng đã gây khó khăn cho hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục tiêu chính của đề tài là đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn đối với nhóm hành vi phạm tội này. Để đạt được mục tiêu, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS.
  2. Phân tích các quy định của BLHS năm 2015 về tội danh này trên các phương diện cấu thành tội phạm và khung hình phạt.
  3. Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện nay thông qua số liệu xét xử thực tế, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân vướng mắc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quan điểm khoa học, quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua công tác xét xử các vụ án hình sự liên quan đến VKQD, PTKTQS.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự hiện hành và khảo sát các bản án, số liệu thống kê xét xử trên địa bàn toàn quốc trong giai đoạn 6 năm, từ năm 2018 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học, kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cùng các nguồn dữ liệu thực tiễn tư pháp:

Hệ thống văn bản pháp lý và khái niệm nền tảng:

  • BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đặc biệt là Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 21 (tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự) và Điều 304 (quy định cụ thể về tội danh).
  • Lịch sử lập pháp qua Điều 95 BLHS năm 1985 và Điều 230 BLHS năm 1999.
  • Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 (quy định định nghĩa, danh mục vũ khí quân dụng tại Điều 3).
  • Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hướng dẫn áp dụng các điều từ Điều 304 đến Điều 308 BLHS, xác định khái niệm PTKTQS).
  • Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội).

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp đồng bộ nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý theo từng chương chuyên biệt:

  • Chương 1 và Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, diễn dịch, tổng hợp và so sánh luật học nhằm làm rõ bản chất pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm và sự tiến hóa của quy phạm pháp luật qua các thời kỳ.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp thống kê xã hội học, phân tích số liệu, so sánh và tổng hợp thực tiễn để đánh giá thực trạng xét xử, phân loại hình phạt và rút ra các vướng mắc áp dụng pháp luật.

Nguồn dữ liệu:

  • Số liệu thống kê chính thức từ Tòa án nhân dân tối cao về công tác thụ lý, xét xử sơ thẩm và các loại chế tài áp dụng từ năm 2018 đến năm 2023.
  • Báo cáo số liệu và Tờ trình dự thảo Luật sửa đổi của Bộ Công an liên quan đến tình hình tội phạm về vũ khí, vật liệu nổ.
  • Các bản án hình sự sơ thẩm thực tế (như Bản án số 40/2022/HS-ST và Bản án số 49/2022/HS-ST).
  • Hệ thống giáo trình luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các sách bình luận khoa học chuyên khảo.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

Chương này tập trung xác định các khái niệm cơ bản, chỉ rõ các đặc trưng pháp lý và khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua ba thời kỳ phát triển:

  1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý:

    • Vũ khí quân dụng: Là vũ khí chế tạo, sản xuất bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác để thi hành công vụ (gồm súng cầm tay, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và đạn dùng cho các loại vũ khí này).
    • Phương tiện kỹ thuật quân sự: Là các loại xe, khí tài, máy móc, phương tiện kỹ thuật được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
    • Đặc điểm tội phạm: Tội danh mang đầy đủ bốn dấu hiệu cơ bản: (i) Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội (xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước, đe dọa an ninh, tính mạng, sức khỏe, tài sản); (ii) Tính có lỗi (lỗi cố ý); (iii) Tính trái pháp luật hình sự (được quy định tại Điều 304 BLHS 2015); (iv) Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi luật định.
  2. Khái quát lịch sử lập pháp:

Tiêu chí BLHS năm 1985 (Điều 95) BLHS năm 1999 (Điều 230) BLHS năm 2015 (Điều 304)
Vị trí nhóm tội danh Chương I: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia Chương XIX: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Hành vi cấu thành Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt Bổ sung hành vi vận chuyển trái phép Giữ nguyên 6 nhóm hành vi (chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán, chiếm đoạt)
Kỹ thuật định khung Dùng tình tiết định tính trừu tượng ("hậu quả nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng") Giữ tình tiết định tính, bổ sung tình tiết vận chuyển/mua bán qua biên giới Cụ thể hóa định lượng: số người chết, tỷ lệ tổn thương cơ thể (%), mức thiệt hại tài sản (VNĐ)
Hệ thống chế tài 3 khung hình phạt (tù từ 1 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình) 4 khung hình phạt (tù từ 1 đến 20 năm hoặc tù chung thân), bỏ hình phạt tử hình; thêm phạt bổ sung 4 khung hình phạt chính (1 năm đến chung thân) và 1 khung phạt bổ sung (phạt tiền 10 - 50 triệu đồng, quản chế/cấm cư trú 1 - 5 năm)

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

Tác giả đi sâu phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống khung hình phạt theo quy định hiện hành:

  1. Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm:

    • Khách thể: Xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với VKQD và PTKTQS. Đối tượng tác động bắt buộc phải là VKQD hoặc PTKTQS theo định nghĩa của pháp luật chuyên ngành.
    • Mặt khách quan: Bao gồm các hành vi không có giấy phép hoặc trái phép:
      • Chế tạo (làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ các bộ phận; làm súng mới bắn được đạn quân dụng);
      • Tàng trữ (cất giữ bất kỳ nơi nào, không phụ thuộc thời gian dài hay ngắn, kể cả nhặt được mà không giao nộp);
      • Vận chuyển (dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác);
      • Sử dụng (lên đạn, bóp cò, rút chốt, vận hành);
      • Mua bán (mua, bán, đổi chác);
      • Chiếm đoạt (cướp, trộm cắp, cưỡng đoạt, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, tham ô hoặc quân nhân/cán bộ khi xuất ngũ, chuyển công tác không giao nộp lại).
      • Nguyên tắc định tội: Nếu các hành vi có quan hệ biện chứng (hành vi trước làm tiền đề cho hành vi sau) thì kết án về một tội nhưng liệt kê đầy đủ hành vi; nếu thực hiện độc lập thì xử lý về nhiều tội độc lập.
    • Chủ thể: Người có năng lực TNHS. Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS ở mọi khung hình phạt; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2, 3, 4 Điều 304).
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp). Người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm và tính trái phép của hành vi nhưng vẫn thực hiện.
  2. Hệ thống khung hình phạt và bất cập định khung:

    • Khoản 1: Phạt tù từ 01 năm đến 07 năm (khung cơ bản).
    • Khoản 2: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (các tình tiết: có tổ chức; qua biên giới; làm chết người; thương tật 61% trở lên hoặc tổng thương tật 2 người từ 61% đến 121%; thiệt hại tài sản 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; tái phạm nguy hiểm).
    • Khoản 3: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (làm chết 02 người; tổng thương tật 2 người từ 122% đến 200%; thiệt hại tài sản 500 triệu đến dưới 1,5 tỷ đồng; vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc giá trị rất lớn).
    • Khoản 4: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (làm chết 03 người trở lên; tổng thương tật 3 người từ 201% trở lên; thiệt hại tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên; vật phạm pháp có số lượng hoặc giá trị đặc biệt lớn).
    • Khoản 5: Hình phạt bổ sung (phạt tiền 10 đến 50 triệu đồng, cấm cư trú hoặc quản chế 1 đến 5 năm).
    • Xử phạt hành chính: Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi sử dụng trái phép bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân (tổ chức nhân đôi) theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
    • Bất cập: Điều luật không quy định số lượng tối thiểu để cấu thành tội phạm (tàng trữ chỉ 01 viên đạn quân dụng đã bị xử lý hình sự theo khoản 1); chưa có hướng dẫn định lượng bằng số tiền hoặc hiện vật cụ thể cho các tiêu chí "vật phạm pháp có số lượng lớn/rất lớn/đặc biệt lớn" hoặc "giá trị lớn/rất lớn/đặc biệt lớn".

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ; MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Chương này phân tích thực tiễn xét xử qua các số liệu thống kê toàn quốc giai đoạn 2018 – 2023, phân tích án điểm và đưa ra hệ thống giải pháp:

  1. Số liệu xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (2018 – 2023): Trong giai đoạn 2018 – 2023, hệ thống Tòa án các cấp đã đưa ra xét xử tổng cộng 1.143 vụ án với 2.018 bị cáo về tội danh này (trung bình mỗi năm xét xử khoảng 190 vụ án và 336 bị cáo).
Năm Số vụ thụ lý Tổng số bị cáo Đình chỉ (Vụ/Bị cáo) Trả hồ sơ cho VKS (Vụ/Bị cáo) Đã xét xử (Vụ/Bị cáo) Còn lại (Vụ/Bị cáo)
2018 125 213 3 / 3 17 / 44 90 / 134 15 / 32
2019 70 154 0 / 0 12 / 24 56 / 111 11 / 19
2020 121 201 - - - -
2021 236 369 - - - -
2022 235 416 - - - -
2023 276 489 - - - -

Diễn biến số vụ và bị cáo có xu hướng giảm nhẹ vào năm 2019 nhưng tăng mạnh liên tục từ năm 2020 và đạt đỉnh điểm vào năm 2023 (276 vụ / 489 bị cáo). Về cơ cấu giải quyết: số vụ xét xử chiếm khoảng 89%, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát chiếm 10,5% và đình chỉ chiếm 0,5%.

  1. Thực trạng áp dụng hình phạt đối với các bị cáo (2018 – 2023):
Loại hình phạt áp dụng Số trường hợp áp dụng
Phạt tù dưới 3 năm 986
Phạt tù từ 3 năm đến 7 năm 230
Cho hưởng án treo 156
Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm 50
Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm 3
Cảnh cáo 3
Cải tạo không giam giữ 2
Tù chung thân hoặc tử hình 1
Miễn trách nhiệm hình sự 1
Phạt tiền (hình phạt chính) 0

Hình phạt phổ biến nhất là phạt tù dưới 3 năm (986 trường hợp) và từ 3 đến 7 năm (230 trường hợp), thể hiện việc xử lý tập trung nhiều ở khung hình phạt cơ bản.

  1. Phân tích thực tiễn định tội danh qua các vụ án:

    • Án buôn bán súng qua không gian mạng (Bản án số 40/2022/HS-ST): Các đối tượng Nguyễn Văn M, Quách Văn H lập nhóm kín trên Facebook, YouTube để giao dịch súng ngắn dạng côn quay và vỏ đạn thể thao; Tòa án tuyên phạt các bị cáo về tội "Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng".
    • Án phức tạp nhiều tội danh (Bản án số 49/2022/HS-ST): Đối tượng Hoàng Ngọc M giải quyết mâu thuẫn bằng cách dùng 02 khẩu súng CZ45 và K59 bắn gây thương tích 13%, sau đó bị bắt cùng 75 viên đạn và 1,8g Methamphetamine; Tòa án tuyên phạm 3 tội độc lập: "Giết người" (chưa đạt, có tính chất côn đồ), "Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng" (khoản 1 Điều 304) và "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Hạn chế, nguyên nhân và giải pháp đề xuất:

    • Hạn chế, nguyên nhân: Tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung còn cao (10,5%) do thiếu thống nhất trong nhận thức về tình tiết định tính ("vật phạm pháp có số lượng/giá trị lớn"); chưa có tiêu chí định lượng vũ khí tối thiểu; mức phạt tiền bổ sung (10 - 50 triệu đồng) còn thấp, chưa tương xứng lợi nhuận phi pháp từ hoạt động buôn bán vũ khí ngầm.
    • Giải pháp:
      • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng giá trị và số lượng đối với vật phạm pháp tại các khoản 2, 3, 4 Điều 304.
      • Sửa đổi quy định theo hướng nâng mức phạt tiền ở hình phạt bổ sung nhằm tăng cường tính răn đe kinh tế.
      • Nâng cao năng lực chuyên môn, thống nhất nghiệp vụ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giám định kỹ thuật và định giá VKQD, PTKTQS.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu: Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận, cung cấp bức tranh số liệu thống kê xét xử toàn diện từ TANDTC trong 6 năm (2018 – 2023) với 1.143 vụ án và 2.018 bị cáo, phản ánh sự gia tăng rõ rệt của loại tội phạm này (đỉnh điểm năm 2023 đạt 276 vụ/489 bị cáo) và chỉ ra cơ cấu chế tài thực tế (án tù dưới 3 năm chiếm ưu thế với 986 trường hợp).
  • Giải pháp đề xuất: Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản giải thích, lượng hóa các tình tiết "số lượng lớn/rất lớn/đặc biệt lớn" và "giá trị lớn/rất lớn/đặc biệt lớn"; điều chỉnh tăng mức chế tài phạt tiền bổ sung; hoàn thiện quy trình giám định kỹ thuật tư pháp đối với súng tự chế có tính năng tương tự vũ khí quân dụng.
  • Đóng góp khoa học: So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tiếp cận ở góc độ hẹp trong quân đội hoặc lý luận chung, khóa luận đã phân tích sâu các vướng mắc áp dụng Điều 304 BLHS năm 2015 trên bình diện xét xử dân sự toàn quốc, kết hợp phân tích các bản án sơ thẩm cụ thể về tội phạm trên không gian mạng và tội phạm có tổ chức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung nghiên cứu trên phạm vi các bản án ngẫu nhiên và số liệu thống kê tổng hợp giai đoạn 2018 – 2023; chưa đi sâu phân tích so sánh định lượng chi tiết cho từng nhóm hành vi riêng biệt (như tách riêng hành vi "vận chuyển" độc lập với "tàng trữ").
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế xử lý hình sự đối với các hành vi mua bán, hoán cải súng săn, súng thể thao, vũ khí tự chế có tính năng sát thương tương tự vũ khí quân dụng theo các văn bản quy phạm pháp luật mới sửa đổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán).
  • Nội dung đáng tham khảo: Bảng phân tích so sánh lịch sử lập pháp (BLHS 1985 – 1999 – 2015); bảng số liệu thống kê chi tiết về tình hình xét xử và cơ cấu hình phạt giai đoạn 2018 – 2023 của Tòa án nhân dân tối cao; lập luận giải quyết xung đột định tội danh khi phạm nhiều tội kết hợp vũ khí quân dụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm vũ khí quân dụng trong khóa luận được xác định căn cứ vào văn bản pháp luật nào? Khái niệm vũ khí quân dụng được tác giả trích dẫn trực tiếp từ khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, bao gồm súng cầm tay, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, bom mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và đạn dùng cho các loại vũ khí này.

2. Tội danh này đã thay đổi như thế nào về vị trí khách thể trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam? Trong BLHS năm 1985, tội danh được xếp tại Điều 95 thuộc Chương I (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia). Từ BLHS năm 1999 (Điều 230) và BLHS năm 2015 (Điều 304), tội danh được chuyển sang nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.

3. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với Điều 304 BLHS năm 2015 được quy định như thế nào? Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS đối với mọi trường hợp quy định tại Điều 304. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS đối với các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của Điều 304.

4. Theo thống kê giai đoạn 2018 – 2023 trong khóa luận, loại hình phạt nào được Tòa án áp dụng nhiều nhất? Hình phạt tù dưới 3 năm được áp dụng phổ biến nhất với 986 trường hợp trên tổng số các bị cáo bị xét xử, tiếp theo là hình phạt tù từ 3 năm đến 7 năm với 230 trường hợp.

5. Vướng mắc lớn nhất trong kỹ thuật lập pháp tại Điều 304 được tác giả chỉ ra là gì? Điều 304 vẫn duy trì các tình tiết định khung mang tính định tính chưa được lượng hóa ("vật phạm pháp có số lượng lớn/rất lớn/đặc biệt lớn" hoặc "có giá trị lớn/rất lớn/đặc biệt lớn") và không quy định số lượng tối thiểu để định tội, dẫn đến việc tàng trữ dù chỉ 01 viên đạn quân dụng cũng đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Thảo Vân đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp lý của Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Thông qua nguồn dữ liệu xét xử thực tế 1.143 vụ án giai đoạn 2018 – 2023, công trình đã phản ánh chính xác thực trạng áp dụng pháp luật và những khoảng trống định lượng trong quy định hiện hành. Các kiến nghị hoàn thiện tiêu chí định lượng vật phạm pháp và điều chỉnh chế tài hình phạt được đề xuất mang giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.