Luận án tiến sĩ: Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phân tích sâu sắc năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam qua thực trạng và các giải pháp nâng cao. Nghiên cứu toàn diện về công tác lãnh đạo, quản lý

Chuyên ngành

Chính trị học

Tác giả

Cù Văn Trung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Chính trị học

2021

181
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là khả năng tổng hợp, thể hiện ở năng lực hoạch định đường lối, chủ trương; tổ chức thực hiện đường lối, chính sách; và năng lực kiểm tra, giám sát việc thực thi. Đây là khái niệm cốt lõi trong hệ thống chính trị Việt Nam, nơi Đảng vừa là lực lượng lãnh đạo, vừa là đảng cầm quyền. Năng lực này được rèn luyện, phát huy trong quá trình cách mạng và đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đổi mới, hội nhập quốc tế. Việc nâng cao năng lực cầm quyền là nhiệm vụ then chốt, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong và phát triển của chế độ, đòi hỏi sự đồng bộ giữa lý luận và thực tiễn.

1.1. Khái niệm và bản chất năng lực cầm quyền

Năng lực cầm quyền của Đảng là tổng thể các năng lực chuyên biệt, bao gồm: năng lực tư duy lý luận, hoạch định đường lối; năng lực tổ chức, xây dựng hệ thống chính trị; năng lực quản lý, điều hành xã hội; và năng lực tự đổi mới, chỉnh đốn. Bản chất của năng lực này gắn liền với bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng. Năng lực cầm quyền không tự nhiên mà có, nó được tôi luyện qua thực tiễn lãnh đạo và luôn cần được nâng cấp để đáp ứng yêu cầu của thời đại.

1.2. Vai trò của Đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị

Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò cầm quyền, lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị. Vai trò này thể hiện trên các phương diện: lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; định hướng xây dựng và hoàn thiện thể chế; kiểm soát quyền lực nhà nước. Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là quan hệ lãnh đạo, không phải quan hệ hành chính trực tiếp. Đảng cầm quyền bằng nghị quyết, chỉ thị, sau đó thể chế hóa thành pháp luật, chính sách để Nhà nước tổ chức thực hiện.

II. Phân tích thực trạng năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ năm 1986 đến nay, năng lực cầm quyền của Đảng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đảng đã lãnh đạo công cuộc Đổi mới thành công, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đạt tăng trưởng cao, đời sống nhân dân cải thiện. Năng lực hoạch định đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Năng lực dự báo, hoạch định chính sách đôi lúc chưa theo kịp sự biến đổi nhanh của tình hình. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực còn thấp.

2.1. Những kết quả đạt được trong nâng cao năng lực cầm quyền

Đảng đã thể hiện năng lực cầm quyền vững chắc qua việc lãnh đạo đất nước vượt qua nhiều thách thức. Đường lối đổi mới được kiên định và phát triển sáng tạo. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Năng lực lãnh đạo kinh tế được nâng lên, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Đảng cũng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Đây là minh chứng cho năng lực cầm quyền ngày càng trưởng thành.

2.2. Hạn chế yếu kém và những vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả, năng lực cầm quyền còn những hạn chế. Đó là tình trạng đảng hóa, nhà nước hóa chưa rõ ràng, hiệu quả. Chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có lúc chưa đáp ứng yêu cầu. Một số tổ chức đảng cơ sở yếu kém, mất sức chiến đấu. Tình trạng quan liêu, xa dân, tham nhũng, lợi ích nhóm làm suy giảm niềm tin. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá đặt ra thách thức lớn cho việc giữ vững và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nâng cao năng lực cầm quyền là yêu cầu khách quan, đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải tập trung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lấy đổi mới tư duy làm trọng tâm. Tiếp theo, cần hoàn thiện cơ chế để Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước và pháp luật, tăng cường dân chủ và kỷ cương. Công tác cán bộ then chốt then chốt phải được cải tiến mạnh mẽ, trọng dụng người tài đức. Đảng cần tăng cường kiểm soát quyền lực, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Cuối cùng, phải phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể.

3.1. Giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đổi mới phương thức lãnh đạo là khâu đột phá. Đảng phải chuyển mạnh sang lãnh đạo bằng đường lối, nghị quyết, cơ chế, chính sách, không can thiệp vào công việc cụ thể của Nhà nước. Cần nâng cao chất lượng quyết định, tăng cường tranh luận, phản biện trong Đảng. Xây dựng cơ chế để đảng viên ưu tú tham gia vào bộ máy Nhà nước một cách chuyên nghiệp, hiệu quả. Đồng thời, Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của mình.

3.2. Giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ và kiểm soát quyền lực

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định. Cần xây dựng cơ chế tuyển chọn, đào tạo, bố trí cán bộ công khai, minh bạch, dựa trên năng lực và uy tín. Kiên quyết loại bỏ những người suy thoái, tham nhũng. Xây dựng hệ thống kiểm soát quyền lực hiệu quả, với cơ chế 'lồng' thể chế để giám sát quyền lực. Phát huy vai trò của báo chí, nhân dân trong giám sát. Đảng phải tự chỉnh đốn, gương mẫu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

IV. Kết luận và ứng dụng trong thực tiễn xây dựng Đảng

Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố sống còn, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Thực tiễn cho thấy, khi năng lực này được nâng cao, Đảng lãnh đạo đất nước đạt được những thắng lợi to lớn. Ngược lại, những hạn chế, yếu kém đều bắt nguồn từ sự suy giảm nhất định của năng lực cầm quyền. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các giải pháp cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ, lấy xây dựng Đảng làm then chốt, gắn liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

4.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo

Bài học quan trọng nhất là phải luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, chống chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ. Sự gắn bó máu thịt với nhân dân là cội nguồn sức mạnh và là thước đo năng lực cầm quyền. Cần phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Đồng thời, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động hội nhập quốc tế.

4.2. Ứng dụng vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng hiện nay

Các kết quả nghiên cứu được áp dụng trực tiếp vào công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trọng tâm là đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng đảng viên; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Cần cụ thể hóa các giải pháp thành chương trình, kế hoạch hành động của từng cấp ủy, tổ chức đảng. Đặc biệt, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đảng viên, giám sát, đánh giá hiệu quả công tác, góp phần nâng cao hiệu lực cầm quyền trong thời kỳ mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Năng lực cầm quyền của đảng cộng sản việt nam thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản 1.1 Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị Là nơi ra đời, phát triển các đảng chính trị và nghiên cứu đảng chính trị sớm trên thế giới, phương Tây đã để lại nhiều công trình nghiên cứu đảng phái chính trị với những công trình tiêu biểu như: - Các hệ thống chính trị Đông Âu và Các hệ thống chính trị Tây Âu (W.Ismayr chủ biên, 2002-2003); Các chính Đảng châu Âu trong hợp tác và hội nhập (chủ biên K. Hai tác phẩm này đã đề cập đến các đảng chính trị ở Anh, Pháp; tuy nhiên nội dung nghiên cứu chủ yếu mới dừng lại ở so sánh một số đặc điểm và ưu thế của các đảng chính trị ở hai quốc gia này.

- Political parties and political development (chủ biên Joseph LaPalombara, Myron Weiner, 1966). Công trình này tập hợp một số chuyên đề về đảng chính trị, sự tồn tại và phát triển của đảng chính trị; chưa đi sâu vào nguồn gốc, bản chất của đảng chính trị. - Các đảng phái chính , chủ biên Maurice Duverger (1969): các tác giả của công trình này bàn về lý thuyết hệ thống đảng chính trị, văn hóa chính trị và lý thuyết bầu cử. - Công trình nghiên cứu Đảng chính trị của các tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt: Đảng chính trị-Chiến lược và sự quản lý (chủ biên V.

Meytus, 2010) chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận về đảng chính trị, xây dựng chiến lược phát triển và duy trì sự tồn tại của Đảng, về cơ cấu tổ chức đảng chính trị ở Mỹ. 7 - Sách Đảng chính trị phương Tây và Cộng hòa Liên bang Đức (Lương Văn Kế chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009) cung cấp những vấn đề lý luận về đảng chính trị, thể chế chính trị ở một số nước phương Tây. Tác giả đã giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của các đảng chính trị; những kinh nghiệm về lãnh đạo, tranh quyền và cầm quyền, xây dựng và phát triển của các đảng chính trị; kinh nghiệm điều chỉnh chiến lược, sách lược của các đảng chính trị hiện nay. Tác giả cũng quan tâm nhận diện về đảng cánh tả và đảng cánh hữu ở phương Tây mà rõ nhất là ở nước Đức và Mỹ.

Ông cho rằng: ở phương Tây cũng không có sự thống nhất về tiêu chí phân chia khuynh hướng tư tưởng chính trị thành cánh tả và cánh hữu. Người châu Âu hiểu đảng cánh tả là đảng mang cách nhìn chiều ngang (horizontal), ủng hộ sự công bằng, cải cách xã hội và hướng tới tương lai; còn đảng cánh hữu có khuynh hướng nhìn theo chiều thẳng đứng (vertical), theo đuổi quan điểm duy trì tôn ti, có tính bảo thủ, công bằng xã hội và coi trọng giá trị tôn giáo. Trong khi đó người Mỹ cho rằng, không riêng gì các đảng cánh tả theo đuổi giá trị công bằng mà ngay các chính đảng thiên hữu cũng nói nhiều về công bằng (justic). Có người hiểu tả là vì lợi ích của người lao động, ủng hộ sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế; còn hữu là vì lợi ích của giới chủ, khước từ can thiệp của nhà nước.

Tuy nhiên trên đại thể, các thủ lĩnh chính đảng khá nhất trí với nhau rằng: phân chia tả - hữu là những khuôn khổ định hướng nhằm tranh thủ cử tri trong bầu cử. Đây là cuốn sách rất có giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu các đảng chính trị ở phương Tây, đặc biệt là đảng chính trị ở nước Đức. - Bài báo Vai trò các đảng chính trị nói chung, đảng cầm quyền nói riêng đối với nhà nước trong chủ nghĩa tư bản hiện đại (Qua khảo sát một số mô hình tiêu biểu) của Nguyễn Xuân Tế và Đặng Đình Thành (2013), Tạp chí Khoa học pháp lý (1), tr. Bài viết được thiết kế theo hai hướng trọng điểm chính: 8 Thứ nhất: Vị trí đảng chính trị và đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị (HTCT) ở các nước tư bản.

Theo hướng này, các tác giả chỉ ra rằng: Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng trong HTCT của các nước tư bản. Nó có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của chế độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của HTCT. Đây là một tổ chức chính trị phản ánh lợi ích của giai cấp, nó liên kết, lãnh đạo những người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội đó để cùng thực hiện đạt những mục tiêu và lý tưởng nhất định. Một trong những vai trò rất quan trọng của các Đảng chính trị là vai trò đối lập của đảng không cầm quyền.

Sự đối lập này thể hiện rất rõ trong hoạt động các đảng chính trị của nhà nước tư sản Anh, Mỹ - nơi điển hình của hệ thống lưỡng đảng. Ngoài Chính phủ đang cầm quyền, pháp luật Anh còn cho phép thành lập Nội các trong bóng tối của các đảng đối lập, có nhiệm vụ tìm ra những khiếm khuyết trong chính sách của đảng cầm quyền, giám sát những người đang làm nhiệm vụ cai trị đất nước dưới sự hướng dẫn của đảng cầm quyền. Đây được gọi là sự đối lập có trách nhiệm, ch ng có tác dụng nhất định gi p nhà nước tư sản thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định của mình. Thứ hai: nghiên cứu vai trò đảng cầm quyền đối với nhà nước, các tác giả cho rằng: Muốn trở thành đảng cầm quyền thì đảng chính trị phải giành quyền lực nhà nước và trở thành đảng cầm quyền thông qua con đường tuyển cử và đấu tranh ở Quốc hội.

Mặt khác, để các đảng chính trị thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và được điều hành ổn định, cần phải xây dựng và thực hiện một chế độ bầu cử trên nguyên tắc dân chủ, tự do, công bằng. Đồng thời, phương pháp chọn đại biểu và quy chế về khu vực bầu cử cũng cần được quan tâm, tính toán sao cho phù hợp với cơ cấu chính trị và truyền thống của quốc gia. 9 Nội dung cốt lõi nhất của bài viết này là các tác giả đề cập đến điều kiện một đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền một cách hợp pháp bằng các giá trị mới. Phương thức này thể hiện qua cương lĩnh tranh cử, thông qua con đường bầu cử hợp pháp, công bằng và dân chủ.

Công trình này có giá trị tham chiếu quan trọng trong quá trình phân tích lịch sử phát triển của đảng cầm quyền tại Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo: - Nguyễn Hữu Đổng và Ngô Huy Đức (2013), Nhận thức khái niệm Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận Chính trị (27/9). Hai nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảng lãnh đạo cơ bản kế thừa quan điểm của V.Lênin, và theo Người: Lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân, đảng lãnh đạo nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Các tác giả cũng làm rõ các nội dung chủ yếu Đảng lãnh đạo và một phần về Đảng cầm quyền theo quan điểm của Hồ Chí Minh: Thứ nhất, Đảng lãnh đạo là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh hưởng của đảng qua các tổ chức đảng và đảng viên đến với quần ch ng nhân dân.

Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền lực - Tức là đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theo nghĩa có sự cưỡng bức, ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tác động của chủ thể lãnh đạo là đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần ch ng nhân dân (hay sự lãnh đạo của đảng đối với quần ch ng nhân dân có đặc điểm là sự vận động mang tính thuyết phục). Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp theo, các tác giả chỉ ra Đảng cầm quyền là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay khi xã hội bắt 10 đầu hình thành các đảng chính trị. Các nội dung trong bài viết là tài liệu tham khảo có giá trị trong luận án.

Nguyễn Hữu Đổng (2012), Phân biệt hoạt động lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay , Tạp chí Lý luận Chính trị số 1. Trong bài viết, tác giả cho rằng, trong HTCT của bất kỳ quốc gia nào hiện nay đều có các bộ phận cấu thành cơ bản, đó là: Đảng chính trị; nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Đảng chính trị thực chất là các tổ chức chính trị thể hiện lợi ích của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội liên kết những đại diện ưu t nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục tiêu và lý tưởng nhất định. Mục tiêu của đảng chính trị nói chung trước hết là giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó để thực hiện các định hướng chính trị, đạt được lợi ích của đảng.

Khi giành được quyền lực nhà nước, đảng đó trở thành đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay từ khi trong xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị. Đảng cầm quyền được hiểu là đảng nắm giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước (BMNN) để kiểm soát quá trình hoạch định và thực thi các chính sách quốc gia. Điều đó cũng có nghĩa, đảng cầm quyền là đảng điều khiển, kiểm soát người của mình trong BMNN thực hiện các mục tiêu phát triển của đảng thông qua các chính sách của nhà nước.

Đảng cầm quyền và đảng lãnh đạo là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Đây là quan điểm nhìn nhận đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền dưới góc độ so sánh tính chất dựa trên các hoạt động và mục đích hoạt động chính trị mà tác giả đã đi đến kết luận có sự khác nhau nhưng tựu chung các đảng chính trị đều có xu hướng đấu tranh để trở thành đảng cầm quyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ