Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền lực Nghiên cứu về quyền lực là một trong những nội dung chính yếu trong các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn chính trị. Đây là những công trình đóng vai trò nền tảng thiết lập nhận thức của con người về quyền lực và các vấn đề liên quan đến quyền lực.
Luận bàn về sự xuất hiện của quyền lực, Aristole trong tác phẩm: Chính trị luận, (Nông Duy Trường dịch) đã chỉ ra rằng, cộng đồng người khi mới xuất hiện, chung sống với nhau thành tổ chức thì đó là tổ chức xã hội. Mối quan hệ giữa con người với con người trong trạng thái xã hội như vậy là mối quan hệ quyền lực, mối quan hệ mà ở đó biểu hiện của mạnh được yếu thua. Để bảo đảm quyền tự do của mỗi, con người cần đến thiết chế để bảo vệ là nhà nước, “nhà nước là do nhiều hộ gia đình tạo nên”. Với câu nói bất hủ: “con người là một sinh vật chính trị” Aristole đã lý giải con người không thể tách khỏi đời sống chính trị của cộng đồng mà họ sinh sống.
Chính trị tự nó không xấu, quyền lực cũng không xấu, chỉ có những mô hình và chế độ chính trị do con người tạo nên mới có tốt và xấu, vì không nhận thức rõ được về bản chất của con người. Tiếp tục lý giải về nguồn gốc của quyền lực, John Locke trong cuốn sách (2013): Khảo luận thứ hai về chính quyền [52], Nxb Tri thức khẳng định, quyền lực trước hết là “quyền tự nhiên” của mỗi cá nhân, quyền bất khả xâm phạm. Theo đó, con người có 4 quyền cụ thể: quyền sống, quyền tự do, quyền sức khoẻ và quyền sở hữu. Sự ra đời của nhà nước là để bảo vệ quyền “tự nhiên” của con người.
Vì vậy, một trong những nguyên tắc căn bản của quyền lực là quyền lực phải được giới hạn. Bởi, quyền lực của bất kỳ nhà nước nào cũng có nguồn gốc từ nhân dân. 10 Khi đa số nhân dân không hài lòng với sự cai trị của chính phủ, họ có quyền phế truất và hình thành nên nhà nước mới. Tiếp tục phát triển, làm rõ nguyên lý tổ chức quyền lực khi xã hội tổ chức thành nhà nước, Rousseau trong tác phẩm (2010): Bàn về khế ước xã hội [96] (Thanh Đạm dịch), Nxb Đà Nẵng, xác định, quyền lực của đất nước là quyền tối thượng của nhân dân, quyền lực nhà nước chỉ là sự ủy thác của nhân dân.
Do đó, nhân dân là người ban hành luật và giữ lại quyền kiểm soát hoạt động của chính phủ qua hội nghị định kỳ của toàn dân. Quá trình thực hiện quyền lực không nhất thiết phải phân quyền, nhưng phải phân công rành mạch chức năng trong bộ máy nhà nước. Điều quan trọng là cơ quan lập pháp phải kiểm soát được cơ quan hành pháp. Nghiên cứu cách thức tổ chức nhằm hạn chế sự lạm quyền của các thiết chế trong hệ thống chính trị cũng được nhiều tác giả quan tâm.
Cuốn sách của tác giả Montesquieu (2010): Tinh thần pháp luật [76], Nxb Đà Nẵng, đã luận bàn về cách thức kiểm soát quyền lực trong các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Theo tác giả, cách tốt nhất để kiểm soát quyền lực là dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Do đó, bộ máy nhà nước phải được phân chia thành ba quyền độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tư tưởng dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực là tư tưởng độc đáo, đảm bảo không một cá nhân nào, tổ chức nào nằm ngoài sự kiểm soát quyền lực.
Nghiên cứu các lý thuyết về tổ chức và thực thi quyền lực đối với sự phát triển của các quốc gia, đa số các nhà tư tưởng đều thừa nhận rằng “thể chế” chính trị là một trong những căn nguyên dẫn đến sự thành công hay thất bại của đất nước. Trong tác phẩm của Daron Acemoglu và James A.Robinson (Người dịch: Nguyễn Thị Kim Chi với sự hợp tác của Hoàng Thạch Quân và Hoàng Ngọc Lan) (2016): Tại sao các quốc gia thất bại [10], Nxb Trẻ, đặt ra giả định: việc các quốc gia có sự cách biệt giàu nghèo phải chăng là do các yếu tố địa lí, văn hóa, trình độ dân trí, sự phong phú hay nghèo nàn của tài nguyên…? Bằng phương pháp nghiên cứu thực chứng, các 11 tác giả đã so sánh tiềm năng và thể chế giữa các nước, so sánh sự phát triển để đi đến kết luận: nguồn gốc của sự thành công, sự giàu nghèo là do “thể chế” quy định. Dù có yếu tố ngẫu nhiên của lịch sử, có sức hút mạnh mẽ của vòng xoáy đi xuống từ thể chế chiếm đoạt này sang thể chế chiếm đoạt khác, có yếu tố quyết định của thời cơ và cá nhân lãnh đạo, nhưng thịnh vượng hay đói nghèo không phải do định mệnh quy định cho mỗi quốc gia, mà là do cách thức tổ chức và thực thi quyền lực của quốc gia đó. Nghiên cứu đề xuất cơ sở cho việc thay đổi thể chế, Chomsky (tác giả được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiên cứu chính trị thế kỷ XXI) trong tác phẩm: Nhận diện quyền lực (2012) (Hoàng Văn Vân dịch, Đinh Hoàng Thắng hiệu đính) [7], Nxb Tri thức, đã đánh nghiên cứu tổng kết các sự kiện chính trị trên thế giới với hệ thống các luận cứ cụ thể và được các nhà nghiên cứu tổng kết qua các cuộc trò chuyện với ông.
Đây là công trình đồ sộ được trình bày dưới dạng hỏi đáp. Với kết cấu đặc biệt và hình thức độc đáo, tác phẩm đã soi rọi những giá trị dân chủ, lòng khoan dung, tính công khai minh bạch, quyền tự do và quyền con người. Đó là những cơ sở quan trọng trong việc xây dựng quyền lực công. Bàn về phương thức cầm quyền là chủ đề rất được quan tâm trong các nghiên cứu chính trị.
Tác giả Janie Tay (2016) với tác phẩm: Lý Quang Diệu bàn về cầm quyền [49] (Nguyễn Phan Nam An dịch) Nxb Trẻ, là cuốn sách tuyển tập các phát biểu của Lý Quang Diệu về nhiều lĩnh vực khác nhau gắn liền với các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể từ thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển đất nước ở Singapore. Vấn đề kiểm soát quyền lực được đề cập trong cuốn sách này là vấn đề tự kiểm soát của người cầm quyền. Lý Quang Diệu cho rằng: “kinh nghiệm của tôi về sự phát triển ở châu Á đã dẫn tôi đến kết luận rằng chúng ta cần những người tốt để cầm quyền tốt. Dù hệ thống chính quyền có tốt đến mấy mà những người cầm quyền tồi thì sẽ gây hại cho nhân dân mình” [49, tr.
Nguyên tắc của người cầm quyền là “chúng ta được giao phó vận mệnh của nhân dân. Bổn phận đầu tiên của người lãnh đạo 12 là phải đáp ứng lòng tin đó dù có nguy hiểm cho cá nhân anh ta, nếu không anh ta không nên nhận vị trí đó” [49, tr. Những quan điểm của Lý Quang là một trong những cách nhìn về vấn đề kiểm soát, tự kiểm soát quyền lực của những người cầm quyền đảng lãnh đạo và nhà nước. Phạm vi nghiên cứu về tổ chức thực thi quyền lực trong hệ thống chính trị được mở rộng ra trong các công trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn ở các quốc gia.
Cuốn sách của tác giả Zhongqing Yin (2012): China’s Political System (Hệ thống chính trị của Trung Quốc) [150], Cengage Learning Asia Pte Ltd, đã phân tích, đánh giá toàn diện về hệ thống chính trị Trung Quốc. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày những thành tựu lớn trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị Trung Quốc, cụ thể là những thành tựu trong cách thức tổ chức quyền lực. Việc tổ chức quyền lực có mức độ dân chủ cao được biểu hiện rõ trong bầu cử, cách thức tổ chức hệ thống chính trị đã phát huy tốt chế độ đại biểu dân cử, vấn đề hợp tác đa đảng trong tổ chức và thực thi quyền lực chính trị là những vấn đề quan trọng trong thực thi quyền lực. Cuốn sách của tác giả William Storey (2007): US Government and Politics (Chính phủ Hoa Kỳ và Chính trị) [151], Edinburgh University Press, nghiên cứu một vấn đề quan trọng là mức độ bình đẳng về cơ hội cho tất cả người dân trong hệ thống chính trị Mỹ.
Tác giả đã trình bày những tư tưởng trong quá trình lập hiến từ khi hệ thống chính trị sơ khai được hình thành. Tác giả đặc biệt chú ý đến các cơ chế được tạo ra nhằm ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực; đồng thời phân tích những phương thức mà các nhánh bầu cử của chính phủ thực hiện quyền lực ở nước Mỹ hiện nay. Theo tác giả việc tổ chức và thực thi quyền lực chắc chắn không thể không tính đến yếu tố tác động từ bên ngoài. Luận án tiến sĩ của Đỗ Quang Khắc (2000): Thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay [59], Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã phân tích hiện trạng thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta trong thời kỳ đổi mới; xác định nguyên nhân những hạn chế trong việc thực thi 13 quyền lực đó và bước đầu tìm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước: Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam (mã số KX.04-28/06-10) của Trần Ngọc Đường và cộng sự (2010) [29] thuộc Chương trình khoa học công nghệ “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị gia đoạn 2006 - 2010” (mã số KX04/06-10), đã phân tích và chỉ rang rằng, trong các cơ quan nhà nước cần có sự phân công phối hợp phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước. Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các thời kỳ: thời kỳ Hiến pháp năm 1946, thời kỳ Hiến pháp năm 1959, thời kỳ Hiến pháp năm 1980, thời kỳ Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001) đến nay. Đề tài khoa học cấp Bộ: “Xây dựng cơ c89hế kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của Lưu Văn Quảng [89], Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2009).