Chương 1 CHU TRUONG VE XOÁ DOI, GIAM NGHEO CUA DANG VÀ VAN DUNG CUA CAC DANG BO BAC GIANG, HA GIANG, HOA BINH VA SON LA (1996-2000) 1. Những nhân tố tac động đến thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở các tinh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La và chủ trương, chỉ đạo của Đảng về xoá đói, giảm nghèo 1. Những nhân tô tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội * Điều kiện tự nhiên VỊ trí địa lý Xét theo quy hoạch tổng thé phát triển kinh tế-xã hội vùng, miền núi phía Bắc (Tây Bắc và Đông Bắc) là một trong các vùng của cả nước bao gồm 14 tỉnh là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái [26].
Phía Bắc của miền núi phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp đồng bằng Bắc bộ và phía Đông là biển đông. Xét theo các địa phương trong vùng, Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La là các tỉnh nam trong vùng đặc biệt khó khăn, có vi tri địa ly cach xa thủ đô Hà Nội, nhất là hai tỉnh Hà Giang và Sơn La. Bắc Giang cách Hà Nội 50 km, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh. Hà Giang cách thủ đô Hà Nội 320km, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai.
Hoà Bình cách thủ đô Hà Nội 73 km, phía Bắc giáp tỉnh Phu Thọ, phía Đông giáp tinh Hà Tây (cũ), phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh 22 Bình và phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hoá. Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Đông giáp tỉnh Lai Châu và phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và Lào. Trong 4 tỉnh trên đây chỉ có Bắc Giang là có điều kiện hơn cả về giao lưu dé phát triển kinh tế-xã hội do tiếp giáp với các địa phương trong nước có điều kiện phát triển là Bắc Ninh và Quảng Ninh, các tỉnh còn lại ít có cơ hội hơn, nhất là Hà Giang và Sơn La. Trong phạm vi địa phương, với nhiều địa bàn là vùng sâu, vùng xa, vùng cao tuy ít bị tác động của cơ chế thị trường hơn nhưng do cách xa các trung tâm phát triển của địa phương nên cũng ít cơ hội giao lưu để phát triển.
Dia hình Địa hình của các tỉnh rất phức tạp [132, tr 8], được phân định thành các vùng như vùng núi và vùng trung du của Bắc Giang, vùng cao núi đá, vùng cao núi đất và vùng thấp của Hà Giang, vùng núi cao và vùng trung du của Bắc Giang, vùng núi và vùng có các bãi băng nhỏ của Sơn La. Với địa hình phức tạp, trong đó có các dãy núi cao tạo ra bề mặt dốc, bị chia cắt sâu và mạnh đặc biệt là ở các tỉnh Hà Giang và Sơn La. Đặc điểm trên đây tạo nên tiềm năng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng, phù hợp với từng loại địa hình, tuy nhiên sự phức tạp về địa hình gây ra nhiều khó khăn đối với công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói chung và thực hiện xóa đói, giảm nghèo nói riêng của các địa phương. ĐỊa hình dốc, núi cao, chia cắt, hiểm trở gây ra nhiều trở ngại cho việc thực hiện các hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo như xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân.
như xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thường tốn kém hon rất nhiều bởi các chi phí vận chuyển nguyên vật liệu, thi công, giám sát, đầu tư phát triển sản xuất phải mat nhiều chi phí, thời gian, lao động, tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn về đi lại, thời gian, chi phí. Những khó khăn, trở ngại về địa hình đối với thực hiện xóa 23 đói, giảm nghèo đã được các địa phương xác nhận. Người dân xã Thén Phang, huyện Xin Man, Hà Giang: Do đến các cơ sở y tế quá xa, di lại khó khăn nên nhiêu người tự chữa trị tại nhà [Điều tra của tác giả, 2010]. Người dân huyện Đà Bắc, Hoà Bình: Canh tác trên địa hình đôi núi dốc, đi lại khó khăn, cách xa đường giao thông nên ít có lãi vì vậy nhiều người không muốn dau tư sản xuất, thậm chỉ bỏ hoang diện tích đất sản xuất được giao [Điều tra của tác giả, 201 1].
Khí hậu Năm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi phù hop. Tuy nhiên mưa thường tập trung trong một thời gian ngắn (Bang 1.1) dan đến thiên tai thường xuyên xảy ra [44, tr 97; 103, tr 11] như lũ quét, sụt lở đất, mưa đá. Đặc biệt là những trận lũ quét đã xảy ra ở nhiều địa phương gây ra những thiệt hại lớn về người và của như phá huỷ, cản trở tiến độ thi công các công trình cơ sở hạ tang, làm ngừng trệ các hoạt động sản xuất, gây ra mat mùa trên diện rộng. Vào mùa đông, nhiều nơi có sương muối, rét đậm kéo dài và mùa hè có gió Lào ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất cây trồng, vật nuôi.
Lượng mưa các thắng trong năm của Hà Giang Don vi tính: mm Tháng 2001 2002 2003 2004 2005 1 56,2 31,9 51,9 60,5 43,8 2 93,9 54,2 30,5 33,6 17,2 3 64,2 169,2 77,7 49,9 73,2 4 78,0 680,0 52,0 185,9 145,2 5 243,6 456,1 256,6 375,5 172,6 6 431,1 401,5 414,8 412,3 653,9 7 761,2 470.7 572,0 467,7 659,5 8 225,2 497,2 762,5 438,2 300,0 9 79,1 115,6 167,1 272,5 190,2 10 178,1 151,3 140,6 5,0 129,2 11 33,3 25,9 41,6 80,5 40,7 12 9,7 101,6 61,7 11,4 31,4 Nguôn: Tông cục thông kê tinh Hà Giang, 2006 [27] 24 Tài nguyên đât, rừng và nước Diện tích đất tự nhiên của các tỉnh tương đối lớn bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng và sông suối. trong đó diện tích đất trống, đổi núi trọc còn rất lớn. Theo thong ké, nam 2005, Ha Giang có tong diện tích là 792.321 ha, trong đó diện tích đất trống, đôi núi trọc là 197,503,02 ha (chiếm 24,92%) [27, tr 49]. Với diện tích đất đai lớn, nhất là đất trống, đổi núi trọc tạo thuận lợi cho các tỉnh khai thác dé mở rộng diện tích sản xuất, tuy nhiên đòi hỏi phải đầu tư nhiều lao động và chi phí tốn kém.
Thêm vào đó chất lượng đất kém do bạc màu, trong đất có nhiều đá nên canh tác kém hiệu quả. Trên vùng cao núi đá việc canh tác còn khó khăn hơn nhiều do thiếu đất sản xuất nên người dân phải gui đất từ nơi khác đồ vào các hốc đá dé canh tác, nhưng chỉ sau một thời gian do đất thoái hóa hoặc bị mưa cuốn trôi lại phải tiếp tục bổ sung lượng đất mới. Các địa phương có diện tích đất tương đối bằng phăng thuận lợi cho phát triển sản xuất như cao nguyên Mộc Châu của Sơn La. nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ còn phan lớn là đất dốc nên canh tác ít thuận lợi (Sơn La chỉ có 15,4 vạn ha diện tích đất bằng phẳng trong tổng diện tích tự nhiên là 1.500 ha, còn lại là đất dốc [140, tr 1]).
Rừng của các tỉnh bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó điện tích rừng tự nhiên còn lớn từ đó mở ra khả năng khai thác và tận dụng các sản phẩm tự nhiên của rừng như gỗ, tre, nứa, các loại động vật. để phục vụ sản xuất và đời sống, tuy nhiên trên thực tế các sản phẩm này đã cạn kiệt nhiều và chất lượng kém do quản lý việc khai thác chưa tốt. Hệ thống sông ngòi của các địa phương khá phong phú. Bắc Giang có 3 sông lớn là Sông Cau, sông Thương và sông Lục Nam, Hà Giang có 2 sông chính chảy qua là sông Lô và sông Gâm, Hoà Bình có sông Đà là con sông lớn nhất và Sơn La có 2 sông chính chảy qua là sông Đà, sông Mã.
Ngoài các sông trên đây còn nhiều hồ, suối phân bồ trên khắp địa bàn các tỉnh. Hệ thống 25 sông, suối phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương có thể khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt cũng như diện tích mặt nước dé phát triển nuôi trồng thủy san. Bên cạnh đó ở các địa bàn vùng cao núi đá của các tỉnh nguồn nước rất khan hiếm, tình trạng thiếu nước sản xuất, sinh hoạt diễn ra thường xuyên [132, tr 8] và dé đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho các địa bàn này đòi hỏi những đầu tư rất lớn về cơ sở hạ tầng. * Điều kiện kinh tế-xã hội Cơ sở hạ tầng Hệ thống đường giao thông của các tỉnh vừa thiếu, vừa kém chất lượng [137, tr 14] gây ra nhiều khó khăn đối với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Hệ thống đường giao thông của các tỉnh bao gồm đường nhựa, đường cấp phối, đường đá dim, nhưng trong đó đường nhựa chỉ chiếm ty lệ nhỏ còn phan lớn là đường cấp phối, đường đá dim và đặc biệt là đường đất tồn tại phổ biến ở các địa ban vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Vào mùa mưa, nhiều nơi chỉ có đường đất nên giao lưu rất khó khăn vì lầy lội khó đi lại, thậm chí gần như bị cô lập với bên ngoài. Nhiều xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, hoặc có thì chủ yêu là đường dat. Giao thông không thuận lợi, thêm vào đó là người dân sống không tập trung [157, tr 1] ảnh hưởng lớn đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo của các chủ thê ở địa phương, trong đó có đội ngũ cán bộ các cấp ủy đảng, chính quyền và các t6 chức chính trị-xã hội, nhất là khi phải trực tiếp xuống cơ sở, thôn, bản, hộ dân đề triển khai công tác xóa đói, giảm nghéo.
Khó khăn này đã được cán bộ địa phương xác nhận. Cán bộ Mặt trận Tổ quốc huyện Mai Sơn, Sơn La: Mỗi lần di công tác rất vat vả, mat nhiều thời gian vì đường xuống xã, thôn, bản rất xấu, nếu gặp mưa có khi hôm sau mới về được [Điều tra của tác giả, 2009].