Luận án tiến sĩ về vai trò của đảng trong xóa đói giảm nghèo ở miền núi phía Bắc (1996-2010)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu lịch sử đảng lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ năm 1996 đến, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

181
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Kết cấu của luận án

2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

2.1. Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xóa đói, giảm nghèo trên cả nước

2.1.1. Những công trình của tác giả nước ngoài

2.1.2. Những công trình của tác giả Việt Nam

2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xóa đói, giảm nghèo ở miền núi phía Bắc

2.3. Những công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La

2.4. Kết luận

3. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ VẬN DỤNG CỦA CÁC ĐẢNG BỘ BẮC GIANG, HÀ GIANG, HÒA BÌNH VÀ SƠN LA (1996-2000)

1.1. Những nhân tố tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La và chủ trương, chỉ đạo của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

1.1.1. Những nhân tố tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La

1.1.2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

1.1.2.1. Các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La vận dụng chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo
1.1.2.2. Chủ trương của các đảng bộ
1.1.2.3. Chỉ đạo thực hiện của các đảng bộ

4. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG MỚI VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ VẬN DỤNG CỦA CÁC ĐẢNG BỘ BẮC GIANG, HÀ GIANG, HÒA BÌNH VÀ SƠN LA (2001-2010)

2.1. Hoàn cảnh lịch sử mới và chủ trương, chỉ đạo của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử mới

2.1.2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

2.1.2.1. Các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La vận dụng chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo
2.1.2.2. Chủ trương của các đảng bộ
2.1.2.3. Chỉ đạo thực hiện của các đảng bộ

5. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Nhận xét sự lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng

3.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân

3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.1.3. Đảng coi trọng hoạch định chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đặc biệt về nguồn lực và quan tâm theo dõi, kiểm tra thường xuyên trong chỉ đạo thực hiện

3.1.4. Các đảng bộ địa phương quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và chú trọng sự sâu sát trong chỉ đạo thực hiện

3.1.5. Đảng và các đảng bộ địa phương coi trọng chỉ đạo phối hợp thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Trung ương và địa phương nhằm bảo đảm nguồn lực

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình hình xóa đói giảm nghèo ở miền núi phía Bắc

Tình hình xóa đói giảm nghèomiền núi phía Bắc từ năm 1996 đến 2010 cho thấy nhiều thách thức và cơ hội. Theo số liệu, tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi phía Bắc cao hơn nhiều so với các vùng khác, với một số tỉnh như Hà Giang và Lai Châu có tỷ lệ hộ nghèo lên đến 50%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những chương trình xóa đói hiệu quả và bền vững. Các chính sách phát triển bền vững cần được triển khai đồng bộ, nhằm cải thiện tình hình kinh tếxã hội cho người dân. Đặc biệt, việc hỗ trợ cộng đồngđầu tư cơ sở hạ tầng là rất quan trọng để tạo điều kiện cho người dân thoát nghèo. Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra: "Chỉ có sự kết hợp giữa chính sách và thực tiễn mới có thể mang lại hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo."

1.1. Các yếu tố tác động đến xóa đói giảm nghèo

Nhiều yếu tố tác động đến việc thực hiện xóa đói giảm nghèo ở miền núi phía Bắc. Đầu tiên, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói. Thứ hai, chính sách phát triển chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Cuối cùng, sự tham gia của người dân trong các chương trình hỗ trợ cộng đồng còn hạn chế, khiến cho hiệu quả của các chương trình không đạt được như mong đợi. Theo một nghiên cứu, "Sự tham gia của người dân là yếu tố quyết định trong việc thực hiện thành công các chương trình xóa đói giảm nghèo."

II. Đánh giá các chương trình xóa đói giảm nghèo

Các chương trình xóa đói giảm nghèo được triển khai từ năm 1996 đến 2010 đã có những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Một trong những điểm mạnh của các chương trình này là sự hỗ trợ cộng đồng từ các tổ chức chính trị-xã hội. Những tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường nguồn lựchỗ trợ kỹ thuật cho người dân. Tuy nhiên, một số chương trình vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi do thiếu sự đồng bộ trong chính sách phát triển. Như một chuyên gia đã nhận định: "Để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng."

2.1. Thành tựu và hạn chế

Thành tựu lớn nhất trong công tác xóa đói giảm nghèo là tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể trong giai đoạn này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc triển khai chính sáchhỗ trợ kỹ thuật. Một số chương trình không được thực hiện đúng tiến độ, dẫn đến việc người dân không nhận được sự hỗ trợ kịp thời. Theo một báo cáo, "Sự chậm trễ trong việc triển khai các chương trình hỗ trợ đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân nghèo."

III. Kinh nghiệm và bài học rút ra

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo, có thể rút ra một số bài học quan trọng. Đầu tiên, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng trong việc triển khai các chương trình hỗ trợ. Thứ hai, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầngphát triển bền vững là rất cần thiết để tạo điều kiện cho người dân thoát nghèo. Cuối cùng, cần phải tăng cường giáo dục và đào tạo cho người dân để họ có thể tự lực vươn lên. Như một nhà nghiên cứu đã nói: "Giáo dục là chìa khóa để mở ra cánh cửa thoát nghèo."

3.1. Đề xuất giải pháp

Để nâng cao hiệu quả của các chương trình xóa đói giảm nghèo, cần có những giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức chính trị-xã hội để họ có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình. Thứ hai, cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho người dân nghèo để họ có thể đầu tư vào sản xuất và kinh doanh. Cuối cùng, cần phải có các chương trình giáo dục và đào tạo để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người dân. Như một chuyên gia đã nhấn mạnh: "Chỉ có sự kết hợp giữa hỗ trợ tài chính và giáo dục mới có thể giúp người dân thoát nghèo bền vững."

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHU TRUONG VE XOÁ DOI, GIAM NGHEO CUA DANG VÀ VAN DUNG CUA CAC DANG BO BAC GIANG, HA GIANG, HOA BINH VA SON LA (1996-2000) 1. Những nhân tố tac động đến thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở các tinh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La và chủ trương, chỉ đạo của Đảng về xoá đói, giảm nghèo 1. Những nhân tô tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội * Điều kiện tự nhiên VỊ trí địa lý Xét theo quy hoạch tổng thé phát triển kinh tế-xã hội vùng, miền núi phía Bắc (Tây Bắc và Đông Bắc) là một trong các vùng của cả nước bao gồm 14 tỉnh là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái [26].

Phía Bắc của miền núi phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp đồng bằng Bắc bộ và phía Đông là biển đông. Xét theo các địa phương trong vùng, Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La là các tỉnh nam trong vùng đặc biệt khó khăn, có vi tri địa ly cach xa thủ đô Hà Nội, nhất là hai tỉnh Hà Giang và Sơn La. Bắc Giang cách Hà Nội 50 km, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh. Hà Giang cách thủ đô Hà Nội 320km, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai.

Hoà Bình cách thủ đô Hà Nội 73 km, phía Bắc giáp tỉnh Phu Thọ, phía Đông giáp tinh Hà Tây (cũ), phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh 22 Bình và phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hoá. Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Đông giáp tỉnh Lai Châu và phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và Lào. Trong 4 tỉnh trên đây chỉ có Bắc Giang là có điều kiện hơn cả về giao lưu dé phát triển kinh tế-xã hội do tiếp giáp với các địa phương trong nước có điều kiện phát triển là Bắc Ninh và Quảng Ninh, các tỉnh còn lại ít có cơ hội hơn, nhất là Hà Giang và Sơn La. Trong phạm vi địa phương, với nhiều địa bàn là vùng sâu, vùng xa, vùng cao tuy ít bị tác động của cơ chế thị trường hơn nhưng do cách xa các trung tâm phát triển của địa phương nên cũng ít cơ hội giao lưu để phát triển.

Dia hình Địa hình của các tỉnh rất phức tạp [132, tr 8], được phân định thành các vùng như vùng núi và vùng trung du của Bắc Giang, vùng cao núi đá, vùng cao núi đất và vùng thấp của Hà Giang, vùng núi cao và vùng trung du của Bắc Giang, vùng núi và vùng có các bãi băng nhỏ của Sơn La. Với địa hình phức tạp, trong đó có các dãy núi cao tạo ra bề mặt dốc, bị chia cắt sâu và mạnh đặc biệt là ở các tỉnh Hà Giang và Sơn La. Đặc điểm trên đây tạo nên tiềm năng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng, phù hợp với từng loại địa hình, tuy nhiên sự phức tạp về địa hình gây ra nhiều khó khăn đối với công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói chung và thực hiện xóa đói, giảm nghèo nói riêng của các địa phương. ĐỊa hình dốc, núi cao, chia cắt, hiểm trở gây ra nhiều trở ngại cho việc thực hiện các hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo như xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân.

như xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thường tốn kém hon rất nhiều bởi các chi phí vận chuyển nguyên vật liệu, thi công, giám sát, đầu tư phát triển sản xuất phải mat nhiều chi phí, thời gian, lao động, tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn về đi lại, thời gian, chi phí. Những khó khăn, trở ngại về địa hình đối với thực hiện xóa 23 đói, giảm nghèo đã được các địa phương xác nhận. Người dân xã Thén Phang, huyện Xin Man, Hà Giang: Do đến các cơ sở y tế quá xa, di lại khó khăn nên nhiêu người tự chữa trị tại nhà [Điều tra của tác giả, 2010]. Người dân huyện Đà Bắc, Hoà Bình: Canh tác trên địa hình đôi núi dốc, đi lại khó khăn, cách xa đường giao thông nên ít có lãi vì vậy nhiều người không muốn dau tư sản xuất, thậm chỉ bỏ hoang diện tích đất sản xuất được giao [Điều tra của tác giả, 201 1].

Khí hậu Năm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi phù hop. Tuy nhiên mưa thường tập trung trong một thời gian ngắn (Bang 1.1) dan đến thiên tai thường xuyên xảy ra [44, tr 97; 103, tr 11] như lũ quét, sụt lở đất, mưa đá. Đặc biệt là những trận lũ quét đã xảy ra ở nhiều địa phương gây ra những thiệt hại lớn về người và của như phá huỷ, cản trở tiến độ thi công các công trình cơ sở hạ tang, làm ngừng trệ các hoạt động sản xuất, gây ra mat mùa trên diện rộng. Vào mùa đông, nhiều nơi có sương muối, rét đậm kéo dài và mùa hè có gió Lào ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất cây trồng, vật nuôi.

Lượng mưa các thắng trong năm của Hà Giang Don vi tính: mm Tháng 2001 2002 2003 2004 2005 1 56,2 31,9 51,9 60,5 43,8 2 93,9 54,2 30,5 33,6 17,2 3 64,2 169,2 77,7 49,9 73,2 4 78,0 680,0 52,0 185,9 145,2 5 243,6 456,1 256,6 375,5 172,6 6 431,1 401,5 414,8 412,3 653,9 7 761,2 470.7 572,0 467,7 659,5 8 225,2 497,2 762,5 438,2 300,0 9 79,1 115,6 167,1 272,5 190,2 10 178,1 151,3 140,6 5,0 129,2 11 33,3 25,9 41,6 80,5 40,7 12 9,7 101,6 61,7 11,4 31,4 Nguôn: Tông cục thông kê tinh Hà Giang, 2006 [27] 24 Tài nguyên đât, rừng và nước Diện tích đất tự nhiên của các tỉnh tương đối lớn bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng và sông suối. trong đó diện tích đất trống, đổi núi trọc còn rất lớn. Theo thong ké, nam 2005, Ha Giang có tong diện tích là 792.321 ha, trong đó diện tích đất trống, đôi núi trọc là 197,503,02 ha (chiếm 24,92%) [27, tr 49]. Với diện tích đất đai lớn, nhất là đất trống, đổi núi trọc tạo thuận lợi cho các tỉnh khai thác dé mở rộng diện tích sản xuất, tuy nhiên đòi hỏi phải đầu tư nhiều lao động và chi phí tốn kém.

Thêm vào đó chất lượng đất kém do bạc màu, trong đất có nhiều đá nên canh tác kém hiệu quả. Trên vùng cao núi đá việc canh tác còn khó khăn hơn nhiều do thiếu đất sản xuất nên người dân phải gui đất từ nơi khác đồ vào các hốc đá dé canh tác, nhưng chỉ sau một thời gian do đất thoái hóa hoặc bị mưa cuốn trôi lại phải tiếp tục bổ sung lượng đất mới. Các địa phương có diện tích đất tương đối bằng phăng thuận lợi cho phát triển sản xuất như cao nguyên Mộc Châu của Sơn La. nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ còn phan lớn là đất dốc nên canh tác ít thuận lợi (Sơn La chỉ có 15,4 vạn ha diện tích đất bằng phẳng trong tổng diện tích tự nhiên là 1.500 ha, còn lại là đất dốc [140, tr 1]).

Rừng của các tỉnh bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó điện tích rừng tự nhiên còn lớn từ đó mở ra khả năng khai thác và tận dụng các sản phẩm tự nhiên của rừng như gỗ, tre, nứa, các loại động vật. để phục vụ sản xuất và đời sống, tuy nhiên trên thực tế các sản phẩm này đã cạn kiệt nhiều và chất lượng kém do quản lý việc khai thác chưa tốt. Hệ thống sông ngòi của các địa phương khá phong phú. Bắc Giang có 3 sông lớn là Sông Cau, sông Thương và sông Lục Nam, Hà Giang có 2 sông chính chảy qua là sông Lô và sông Gâm, Hoà Bình có sông Đà là con sông lớn nhất và Sơn La có 2 sông chính chảy qua là sông Đà, sông Mã.

Ngoài các sông trên đây còn nhiều hồ, suối phân bồ trên khắp địa bàn các tỉnh. Hệ thống 25 sông, suối phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương có thể khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt cũng như diện tích mặt nước dé phát triển nuôi trồng thủy san. Bên cạnh đó ở các địa bàn vùng cao núi đá của các tỉnh nguồn nước rất khan hiếm, tình trạng thiếu nước sản xuất, sinh hoạt diễn ra thường xuyên [132, tr 8] và dé đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho các địa bàn này đòi hỏi những đầu tư rất lớn về cơ sở hạ tầng. * Điều kiện kinh tế-xã hội Cơ sở hạ tầng Hệ thống đường giao thông của các tỉnh vừa thiếu, vừa kém chất lượng [137, tr 14] gây ra nhiều khó khăn đối với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Hệ thống đường giao thông của các tỉnh bao gồm đường nhựa, đường cấp phối, đường đá dim, nhưng trong đó đường nhựa chỉ chiếm ty lệ nhỏ còn phan lớn là đường cấp phối, đường đá dim và đặc biệt là đường đất tồn tại phổ biến ở các địa ban vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Vào mùa mưa, nhiều nơi chỉ có đường đất nên giao lưu rất khó khăn vì lầy lội khó đi lại, thậm chí gần như bị cô lập với bên ngoài. Nhiều xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, hoặc có thì chủ yêu là đường dat. Giao thông không thuận lợi, thêm vào đó là người dân sống không tập trung [157, tr 1] ảnh hưởng lớn đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo của các chủ thê ở địa phương, trong đó có đội ngũ cán bộ các cấp ủy đảng, chính quyền và các t6 chức chính trị-xã hội, nhất là khi phải trực tiếp xuống cơ sở, thôn, bản, hộ dân đề triển khai công tác xóa đói, giảm nghéo.

Khó khăn này đã được cán bộ địa phương xác nhận. Cán bộ Mặt trận Tổ quốc huyện Mai Sơn, Sơn La: Mỗi lần di công tác rất vat vả, mat nhiều thời gian vì đường xuống xã, thôn, bản rất xấu, nếu gặp mưa có khi hôm sau mới về được [Điều tra của tác giả, 2009].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Xóa đói giảm nghèo ở miền núi phía Bắc: Nghiên cứu từ 1996 đến 2010" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những nỗ lực và kết quả trong công tác xóa đói giảm nghèo tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam trong khoảng thời gian 14 năm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù đã có nhiều chương trình và chính sách được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được mục tiêu bền vững. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tình hình thực tế mà còn nêu bật những bài học kinh nghiệm quý giá cho các chính sách trong tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ ứng dụng cách tiếp cận phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân để nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo tại xã Yên Thuận huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang001", nơi trình bày cách tiếp cận phát triển cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh Saravanh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm nghèo đa chiều và các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La 1998 đến 2015" cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình xóa đói giảm nghèo tại một tỉnh miền núi khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về vấn đề này.