CHƯƠNG 1 TRUYEN HÌNH VỚI VAN DE XÓA DOI GIAM NGHÈO: MỘT SO LÝ LUẬN CHUNG 1. Những khái niệm liên quan 1. Khái niệm về truyền hình Quan niệm về TH. Theo Ta Ngọc Tan trong cuốn Truyén thông đại chúng: TH là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng chuyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh.
Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến TH( television) bắt nguồn từ, từ tele có nghĩa là ở xa và vision là thấy được. Television là thay được ở xa. [35,tr 123] Theo giáo trình báo chí TH [2, tr 8] của Duong Xuân Sơn, thuật ngữ TH (Television) có nguồn gốc từ tiếng tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp “tele” có nghĩa là ở xa, còn “videre” là thấy được.
Tiếng La Tinh là xem được từ xa. Ghép hai từ đó được Tele videre có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “television”, tiếng pháp là “televison”. So với các phương tiện truyền thông đại chúng, TH ra đời sau, nhưng có bước phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng do kế thừa tất cả những điểm mạnh của các phương tiện truyền thông đại chúng trước nó như: Sách; Báo in, Phát thanh; Điện ảnh.
Tác động đến hai giác quan quan trọng nhất của con người là thị giác và thính giác, TH có khả năng biểu cảm và tính hấp dẫn cao. Nhờ khả năng thông tin dưới hình thức âm thanh hién thị, thiết kế thông điệp đơn giản, truyền hình tiếp cận được số công chúng rộng rãi nhất. Chính những đặc thù của truyền hình cho thấy sự đóng góp quan trọng của các yếu tố bên ngoài việc thiết kế, bố trí sắp xếp thông điệp, đó là công nghệ sản xuất TH. Ngày nay, TH là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc.
TH trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tê - xã hội, an ninh, quôc phòng. 17 Sự ra đời của TH đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng ma còn tăng về chất lượng, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với những ưu thế về công nghệ kỹ thuật, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung. Cùng với sự phát triển về công nghệ, công chúng xem TH không cần phải ngồi trên tivi nữa mà sử dụng một số thiết bị công nghệ như điện thoại di động, máy tính bảng.
Chương trình TH không chỉ là có âm thanh, hình ảnh. truyền thống như trước nữa mà thay vào đó là những kỹ sảo, công nghệ về hình ảnh cũng cải thiện hơn, phù hợp với su thế hiện đại mà khán giả đang ngày ngày tiếp cận. Khái niệm về đói nghèo Đói nghèo Quan niệm về đói nghèo chỉ mang tính chất tương đối bởi nó phụ thộc vào điều kiện không gian, địa lý, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về van dé đói nghèo.
Quan điểm đói nghèo trên thé giới Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Đói nghèo được định nghĩa là tình trạng vô cùng thiếu thốn do không có đủ nguồn lực đáp ứng các nhu cầu cá nhân cơ bản. Tình trạng đói nghèo cũng đồng nghĩa với không có chỗ ở, nước sạch. Doi nghèo cũng làm cho người ốm không thé đi khám bác sỹ, người mù chữ không được đến trường, người lao động không có kỹ năng và trình độ, thất nghiệp phô biến. Đói nghèo cũng đồng nghĩa với việc lo lắng về tương lai, song ngày nao biết ngày đấy.
Đói nghèo là điều không ai muốn [12,tr. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đói nghèo được hiểu là sự thiếu cơ hội dé có thé sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa các 18 thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia. Cũng theo WHO thì thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo thay đồi theo từng địa phương va theo thời gian [19, tr.
Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP), đói nghèo được định nghĩa là: Tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập 12 quán của từng địa phương. Đây là một khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo được nhiều nước trên thé giới sử dụng trong đó có Việt Nam [18]. Quan điểm đói nghèo của Việt Nam Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đó la: “Doi nghẻo là tình trạng một bộ phan dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quan của địa phương [Š, tr. Tóm lại, dù tiếp cận theo phương pháp nào thì những quan điểm đói nghèo ở trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo đó là: Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiều dành cho con người; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
Đói nghèo là một van đề kinh tế - xã hội có tính toàn cau, là sự thé hiện tính công bằng trong phân phối và chuyên tải các thành quả về phát triển kinh tế đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi người dân. Vì vậy, dé đảm bảo công bằng xã hội, để nâng cao tiếng nói trên trường quốc tế thì không riêng Việt Nam mà tất cả các nước đều phải chú ý thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghẻo. Khái niệm về xóa đói giảm nghèo Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở, XDGN là một chiến lược của chính phủ Việt Nam nhăm giải quyết van dé đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam. Năm 1989, Việt Nam chuyên sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành nước xuất khâu gạo, và giữa vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà đa số phân bố ở các xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo). Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyên sang nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%). Ngay đầu năm 1991, van đề xoá đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào XĐGN. Tổng bí thư Đỗ Mười khi đó rất quan tâm đến chương trình này, ông lo lắng thế hệ con cháu mai sau bị ảnh hưởng do đói nghèo hôm nay.
Nghị quyết Quốc hội Việt Nam về nhiệm vụ năm 1993 đã đánh giá cao tinh thần cộng đồng, tương thân tương ái "trong nhân dân đã phát triển nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ nhau và phong trào XĐGN, đền ơn đáp nghĩa." Sáng kiến của Thủ tướng Chính phủ được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ngày 17 tháng 10 là "Ngày vì người nghèo", đó cũng là ngày Liên hợp quốc chọn là ngày "Thế giới chống đói nghèo". Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo". Đây là chiến lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố. Trong quá trình xây dựng chiến lược có sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như IMF, UNDP, WB.
tổng hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam. Vấn đề là cụ thể hoá chiến lược 20 bang các chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên. Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng hộ. Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu: 1.
Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói 2. Đạt phổ cập giáo dục tiểu học 3. Tăng cường bình dang giới và nâng cao vị thế phụ nữ 4. Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh 5.
Tăng cường sức khỏe bà mẹ 6. Phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác 7. Đảm bảo bền vững môi trường 8. Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển Những mục tiêu này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp XĐGN một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển.
Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm XDGN thì luôn ấn chứa nguy cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu qua bất 6n định kinh tế - xã hội. Những mục tiêu đó cũng gợi mở những phương thức tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc XDGN. Ở Việt Nam, từ năm 2015 trở về trước, hộ nghẻo trên xác định là hộ gia đình có mức thu nhập (bình quân đầu người) thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghẻo. Từ 2016- 2020, người nghẻo, hộ nghèo được xác định dựa trên cả tiêu chí về thu nhập và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghẻo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Theo đó ngoài tiêu chí thu nhập, còn có nhóm tiêu chí về các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm 5 dịch vụ: y té, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.