phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải pháp xóa đói giảm nghèo Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Tình hình thực hiện giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Yên Khánh giai đoạn 2005-2014 Chƣơng 4: Biện pháp hoàn thiện giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Yên Khánh đến năm 2020, tầm nhìn 2025 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Giảm đói nghèo là một trong 8 MDG (Millennium Development Goal – Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ) đƣợc 189 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc nhất trí phấn đấu đạt đƣợc vào năm 2015 và đƣợc ghi trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị thƣợng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 06 đến ngày 08 tháng 9 năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York, Mỹ. Chính vì vậy mà ở ngoài nƣớc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giảm đói nghèo nói chung và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói riêng, điển hình là một số công trình sau: - Michael P.
Torado (1998), Economics for a Third World (Kinh tế học cho thế giới thứ ba) - Giới thiệu những nguyên tắc, vấn đề và chính sách về phát triển, đã giới thiệu kết quả nghiên cứu về những nguyên tắc, vấn đề và chính sách phát triển. Cuốn sách đã tập trung vào các vấn đề nhƣ nông nghiệp, nông thôn, về lao động và ảnh hƣởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội, những vấn đề về dân số, nghèo đói và tấn công vào nghèo đói và bất công; di cƣ từ nông thôn ra thành thị; nông nghiệp trì trệ và các cơ cấu ruộng đất; nông nghiệp tự cung tự cấp và sự phát triển nông thôn. Những vấn đề trên có thể tạo lập những cơ sở lý thuyết cơ bản cho công tác xóa đói giảm nghèo của nhiều nƣớc trong đó có Việt Nam. - Shanks, Edwin, và Carrie Turk (2002), Policy Recommendations from the Poor, Vietnam Development Information Center, tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho Nhóm hành động chống nghèo đói (PTE), diễn đàn của các tổ chức chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi 6 z chính phủ đƣa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.
Pernia, and Gemma Esther B. Estrada (2003), Economic Growth and Poverty Reduction in Vietnam, ERD Working Paper No. 42, ADB: Nghiên cứu cho thấy theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu nổi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo nhờ có nhân tố chính là tăng trƣởng kinh tế theo chiều rộng. Điều đó chứng tỏ đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam vào năm 1986 đã góp phần giúp ngƣời nghèo vƣợt nghèo vƣơn lên có thu nhập ổn định mà chƣa có nƣớc đang phát triển ở châu Á nào có thể làm đƣợc trong những thập kỷ gần đây.
Nghiên cứu còn cho thấy rằng tốc độ tăng trƣởng càng cao bao nhiêu thì vai trò của các nhân tố phân phối là trực tiếp ảnh hƣởng đến an sinh của ngƣời nghèo càng trở nên ít hơn. Tuy nhiên, các nhân tố phân phối lại này vẫn có thể góp phần đẩy mạnh cả tăng trƣởng và giảm đói nghèo trong dài hạn. Mmai, Raghav Gaiha, Ganesh Thapa (2012), Microfinance and Poverty, cho rằng một quốc gia với số lƣợng tổ chức tài chính vi mô nhiều hơn, tổng danh mục cho vay bình quân đầu ngƣời cao hơn có xu hƣớng đạt đƣợc kết quả giảm nghèo đói khả quan hơn. Những kết quả còn cho thấy rằng tài chính vi mô không chỉ làm giảm tỷ lệ đói nghèo mà còn giảm chiều sâu và mức độ nghiêm trọng của nó.
Nghiên cứu này rất hữu ích trong việc thêm bằng chứng xác thực về việc các tổ chức tài chính vi mô gặp trở ngại dẫn tới sẽ làm tổn thƣơng ngƣời nghèo. Các tổ chức tài chính vi mô bền vững có thể giúp ngăn ngừa vấn đề của đói nghèo mà nguyên nhân sâu xa của nó là sự phục hồi chậm và sút kém của nền kinh tế toàn cầu. - Nguyen Viet Cuong (2011), “Can Vietnam achieve the millennium dvelopment goal on poverty reduction in high inflation and economic 7 z stagnation?”, The Developing Economies, Volume 49, Issue 3, p. 297-320: Báo cáo cho thấy một trong những MDG mà Việt Nam cam kết thực hiện là giảm đói nghèo tổng quát và giảm đói nghèo lƣơng thực.
Mặc dù Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu nổi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo thời gian gần đây nhƣng Việt Nam có thể không đạt đƣợc mục tiêu MDG trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo bởi lạm phát cao và kinh tế đình trệ. Bài nghiên cứu sử dụng khảo sát mức sống của các hộ gia đình Việt Nam trong các năm 2002, 2004, 2006 để dự báo tỷ lệ nghèo đói vào năm 2008 và 2010 để kiểm tra xem liệu Việt Nam có đạt mục tiêu MDG trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo hay không. Dự báo còn tính đến lạm phát cao năm 2008 và kinh tế đình trệ giai đoạn 2008-2009, và chỉ ra rằng Việt Nam có thể đạt đƣợc MDG về giảm nghèo tổng quát nhƣng có thể không đạt đƣợc MDG về giảm nghèo lƣơng thực. - Lanjouw, Peter; Marra, Marleen; Nguyen, Cuong (2013), Vietnam's Evolving Poverty Map: Patterns and Implications for Policy, World Bank, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/13156: công trình nghiên cứu đã sử dụng các công cụ tính toán theo khu vực nhỏ để cập nhật tình hình đói nghèo tại các tỉnh và quận, huyện, thị xã đến năm 2009.
Theo nghiên cứu thì nghèo đói vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất ở miền núi phía bắc và miền núi miền trung, những nơi mà đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần lớn dân cƣ. Mặc dù tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống ở hầu hết các tỉnh, quận, huyện, thị xã trong 10 năm qua, những tốc độ giảm nghèo vẫn chƣa đạt đƣợc ở những nơi có nghèo đói ban đầu hoặc mức độ bất bình đẳng. Điều đó làm cho ngƣời nghèo ngày càng nghèo hơn. Vì vậy, cần phải dựa vào điều kiện địa lý cụ thể để đƣa ra các chính sách xóa đói giảm nghèo phù hợp.
- Dang, Hai-Anh H. (2014), Welfare Dynamics Measurement: Two Definitions of a Vulnerability Line and Their Empirical Application, World Bank Group, Washington, DC, 8 z https://openknowledge.org/handle/10986/18831: Bài nghiên cứu tập trung vào những đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng – phân biệt nhóm dân cƣ nghèo đói với nhóm dân cƣ không nghèo đói những vẫn phải đối mặt với nguy cơ tái nghèo. Thông qua việc sử dụng các dữ liệu từ Mỹ, Việt Nam và Ấn Độ, báo cáo cho thấy rằng trong cùng thời điểm này, lƣợng dân cƣ nghèo đã giảm xuống và có thu nhập trung bình đã tăng lên, trong khi ở Mỹ lại có kết quả ngƣợc lại. - Kozel, Valerie (2014), Well Begun but Not Yet Done: Progress and Emerging Challenges for Poverty Reduction in Vietnam, World Bank Group, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/20074: Báo cáo đã đƣa ra cái nhìn tổng quan về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, trong đó tập trung vào những thành công ấn tƣợng trong tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo nhƣng bên cạnh đó báo cáo cũng chỉ ra rằng những thách thức lớn vẫn còn tồn tại; cập nhật chuẩn nghèo ở Việt Nam; đánh giá thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; phân tích, so sánh quy mô đói nghèo ở Việt Nam năm 1999 với năm 2009; đề cập đến công tác xóa đói giảm nghèo cho ngƣời dân tộc thiểu số và đề ra câu hỏi liệu bất bình đẳng có đang ngày càng tăng lên ở Việt Nam và đƣa ra một số gợi ý.
- Demombynes, Gabriel; Hoang Vu, Linh (2015), Demystifying Poverty Measurement in Vietnam, World Bank Group, Washington, DC, https://openknowledge.org/handle/10986/21691: Nghiên cứu cung cấp các cách đo đói nghèo ở Việt Nam cho những ngƣời không chuyên. Theo nghiên cứu này, Việt Nam có 2 cách để đo đói nghèo, cách tiếp cận theo thu nhập đƣợc Bộ Lao động, Thƣơng Binh và Xã hội sử dụng để phân loại đói nghèo và sử dụng trong các chƣơng trình giảm xóa đói giảm nghèo trong thời gian ngắn. Bên cạng đó, cách tiếp cận dựa trên chi tiêu đƣợc Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới sử dụng để đo lƣờng những thay đổi về đói nghèo trong thời gian dài. Chuẩn đói nghèo của Việt Nam là 1,25 USD/ngày so với 9 z chuẩn đói nghèo quốc tế là 2 USD/ngày.
Chuẩn đói nghèo quốc gia theo Tổng cục Thống kê là tƣơng tự xét về ngang giá sức mua so với các quốc gia khác có cùng trình đô phát triển. Theo dự báo thì tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam sẽ giảm từ 17,2% năm 2012 xuống còn dƣới 10% vào trƣớc năm 2020, nhƣng hơn 1/3 đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở trong tình trạng đói nghèo. Các nghiên cứu trên đã đƣa ra cái nhìn tổng quát về xóa đói giảm nghèo nói chung và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói riêng. Có thể nói đây là cơ sở lý luận cơ bản để tác giả tham khảo trong việc hoàn thành luận văn và nắm đƣợc tình hình tổng quát nhất về công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu trong nước Đói nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội dành đƣợc sự quan tâm lớn của cộng đồng xã hội bởi nó tác động đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và đến sự phát triển của một quốc gia, vùng, miền hay của bản thân mỗi ngƣời. Vì vậy đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chƣơng trình, đề án đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo ở trong nƣớc với nhiều góc độ khác nhau. * Dƣới dạng báo cáo, đề án, đề tài - Bộ Lao động, Thƣơng Binh và Xã hội (2003), Báo cáo sơ kết thực hiện chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và việc làm 2001-2003, nhiệm vụ và giải pháp, Hà Nội: Báo cáo đã sơ kết việc thực hiện chƣơng trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và việc làm trong giai đoạn 2001-2003, rút ra những thành tựu đạt đƣợc và nguyên nhân, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó; từ đó báo cáo sơ kết đề xuất mổ số nhiệm vụ và giải pháp nhằm thực hiện chƣơng trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2004-2005.