Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ GIAI ĐOẠN 1997-2005.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng và chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng .1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Đoan Hùng. - Vị trí địa lý. Huyện Đoan Hùng là một huyện Trung Du miền núi, nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ, là cửa ngõ của bốn tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, cách trung tâm thành phố Việt Trì 56 km về phía Tây Bắc. Phía Bắc giáp với huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, Phía Nam giáp với huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp với huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ.
Toạ độ địa lý của huyện nằm từ 21031’đến 21043’vĩ độ Bắc,105006’đến 105015’kinh độ Đông. Nằm ở vị trí này huyện Đoan Hùng có thế mạnh lớn về phát triển kinh tế bên cạnh đó việc thông thương đường bộ và đường thuỷ với các tỉnh lân cận rất thuận lợi. - Địa hình Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền Trung Du và miền đồi núi cao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 30.244,47 ha trong đó diện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích. Địa bàn huyện Đoan Hùng nằm trên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp, đồi núi xen kẽ các cánh đồng lầy thụt.
Huyện có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm phần lớn dân số trong vùng. 10 z Địa hình của huyện khá phức tạp thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình 30- 50, có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt năm ở các khe độc, có chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 31 km, Chiều rộng từ Đông sang Tây là 14 km. Sự thay đổi độ cao của các vùng trong huyện thấp dần về phía sông Lô, sông Chảy, cụ thể địa hình được chia làm 3 tiểu vùng. - Tiểu vùng I (tiểu vùng Thượng huyện) diện tích 12.347ha (bao gồm 9 xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông Khê, Tây Cốc, Ca Đình, Ngọc Quan) chiếm khoảng 41% tổng doanh nghiệp.
Địa hình nơi đây có nhiều đồi núi cao, rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng, độ dốc trung bình 12o – 25o với dải gò đồi bát úp mấp mô có độ cao trung bình từ 50m đến 100m tạo nên khoảng giữa là các thung lũng nhỏ hẹp, thích hợp cho trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả. - Tiểu vùng II (tiểu vùng ven sông Lô, sông Chảy) có diện tích 10.800 ha, bao gồm 13 xã (Chí Đám, Vân Du, Hùng Quan, Nghinh Xuyên, Phương Trung, Phong Phú, Thị trấn Đoan Hùng, Hữu Đô, Phú Thứ, Đại Nghĩa, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quan), chiếm 35,7% diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng hẹp ven sông Lô, sông Chảy. Đất vùng ven sông nên chủ yếu là đất phù sa cổ và một phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả. - Tiểu vùng III (tiểu vùng Hạ huyện) diện tích có 7.097,47 ha, bao gồm 6 xã (Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến), chiếm khoảng 23,5% tổng DTTN, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồi bát úp có nhiều cánh đồng dạng lòng chảo, có độ cao phổ biến từ 25 m đến 50 m, có ưu thế về chăn nuôi, trồng cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng.
- Khí hậu – thuỷ văn: 11 z Khí hậu: Đoan Hùng thuộc vùng Trung Du Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao, cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá. Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắc thổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp. Đặc biệt trong tháng 11,12 và tháng 1 độ ẩm không khí thấp, nắng hanh kèm theo sương muối làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng, gây thiệt hại cho sản xuất. Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 230C từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng lạnh nhất trong năm tập trung 58% xảy ra vào tháng 1; 20% - 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng 12 và 14% tập trung vào tháng 2.
Ẩm độ: Bình quân độ ẩm không khí hàng năm từ 84% - 86%, chênh lệch giữa các tháng không lớn từ (4%– 7%), tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 11 và tháng 12. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm: là 1.176 mm thấp hơn lƣợng mƣa hàng năm, lớn nhất vào tháng 5 (89 mm) và nhỏ nhất vào tháng 3 (52,7 mm). Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bbình năm là 1644 mm. Lượng mưa của huyện Đoan Hùng phụ thuộc vào điều kiện địa hình và tiếp giáp với các vùng mưa đầu nguồn nên huyện có lượng mưa trung bình cao hơn tỉnh Phú Thọ, song mưa có tính chất cường độ và thời gian không đều.
- Thuỷ văn: Đoan Hùng là huyện có điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản vì nguồn nước do sông ngòi cung cấp cho rất lớn, tuy vậy vào mùa mưa lũ đời sống nhân dân vùng này gặp phải rất nhiều khó khăn, toàn huyện có hai con sông lớn chảy qua và 28 ngòi bao gồm: Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 m bắt đầu từ vùng tiếp giáp Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua các xã 12 z Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, Thị trấn Đoan Hùng, Vân Du, Chí Đám và đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Chúc – Chí Đám). Sông Lô từ Tuyên Quang chảy vào Đoan Hùng tại Chí Đám, Hữu Đô theo hướng Bắc Nam, chảy qua các xã: Thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Đại Nghĩa, Hùng Long, Vụ Quan, Phú Thứ, chiều dài của sông qua huyện là 24 km. Hai con sông này có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng, nước chảy xiết, vào mùa mưa lũ hợp lại gây nên những trận lụt lớn cho vùng, lưu lượng 1.Vì vậy, công tác phòng hộ đê được các cấp chính quyền và nhân dân trong vùng rất coi trọng. Ngòi, với 28 ngòi (ngòi Lạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi Sống, ngòi Ruỗn, ngòi Rằm…., ), cứ bình quân 3,36 km2 lưu vực có 1 km ngòi dài tạo nên cho huyện một hệ thống tưới tiêu phong phú, vừa để tiêu nước khi mưa lũ và đưa nước lên các xã vùng thượng huyện vào mùa khô.
Tóm lại, điều kiện khí hậu, thuỷ văn nói trên cho thấy ngoài gió và ngập úng vùng trũng là yếu tố ảnh hưởng chính đến năng suất, sản lượng và phẩm chất cây trồng, nhìn chung các yếu tố khí tượng đều thích hợp về yêu cầu sinh lý phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là phù hợp với cây ăn quả trong đó có cây bưởi đặc sản phát triển rất mạnh. - Thổ nhưỡng và các đặc điểm đất đai. Theo số liệu điều tra của Viện Nông hoá thổ nhưỡng tháng 12/2002 đất đai trên địa bàn huyện Đoan Hùng gồm có các nhóm đất chính sau: Đất phù sa ven sông: Loại đất này được bồi đắp phù sa hàng năm, độ phì khá, nghèo lân, bị úng ngập thường xuyên, đất chua, phân bố tập trung chủ yếu ở các xã nằm ngoài hoặc ven sông trong đê vùng ven sông Lô, sông Chảy như: Vân Du, Hùng Quan, Sóc Đăng, Phong chung, Chí Đám…đất thích hợp với các loại cây nông nghiệp hàng năm và cây hoa màu hàng năm. 13 z Đất vùng trũng: Loại đất này tập trung ở đại hình các vùng trũng, ngập úng quanh năm, nghèo chất dinh dưỡng, đất chua, có hàm lượng mùn cao, dễ tiêu, giây ở mức trung bính đến mạnh, yếm khí, phân bố ở hầu hết các xã tronghuyện như: Đông Khê, Yên Kiện, Vân Đồn, Chí Đám…đất này thích hợp với lúa một vụ chiêm.
Đất tầng mỏng: Loại đất này không được bồi đắp hàng năm, tập trung ở nơi có địa hình trung bình hoặc thấp, tầng đất canh tác mỏng, mức độ giây xảy ra mạnh, hàm lượng mùn ở cấp độ nghèo, phân bố tập trung ở các vùng ven sông Lô, sông Chảy như: Hùng Quan, Vụ Quang, Phú Thứ và rải rác ở một số xã trong huyện thích hợp với các cây hoa màu ngắn ngày như: đậu, đỗ, khoai lang. Đất cát: Loại đất nay do bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên độ phì kém, đất nghèo chất dinh dưỡng, bị khô hạn, phân bố tập trung chủ yếu ở xã Chí Đám, thích hợp với các cây hoa màu (đậu, đỗ, khoai lang). Đất xám: Tầng dầy đất 50cm đến 70cm, đất ít kết vón đá ong, đất chua, nghèo lân, phân bố ở các địa hình trung bình và cao ở các xã trong huyện, thích hợp với các cây công nghiệp hàng năm, cây lâm nghiệp lâu năm, cây ăn quả… Đất đỏ: Loại đất này phân bố tập trung ở các xã thuộc tiểu vùng thượng huyện như: Tây Cốc, Bằng Luân, Bằng Doãn, Minh Long và rải rác một số xã vùng kinh tế thượng huyện như Tiêu Sơn, Minh Tiến trên nền độ cao trung bình từ 50m đến 100m, thích hợp với các cây công nghiệp, cây lâu năm. Về số lượng: huyện Đoan Hùng có 6 nhóm đất chính, trong đó có 3 nhóm chiếm diện tích lớn là nhóm đất xám có tỷ trọng lớn nhất chiếm 66,47% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phù sa chiếm 13,66%, đất đỏ chiếm 5,2% tổng diện tích đất tự nhiên.
Về chất lượng: Qua các kết quả phân tích các thành phần hoá học trong đất của viện nông hoá thổ nhưỡng, cho thấy đất đai của Đoan Hùng có các 14 z mức chất lượng trung bình chủ yếu chiếm 38,66% với 11.691,98 ha, còn lại là đất trung bình, khá, đất có chất lượng kém chỉ chiếm 2,78% với 841,107 ha. Về độ dốc chủ yếu trong khoảng 80– 150, chiếm 53,25%. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng - Dân số và lao động Huyện có 28 đơn vị hành chính, xã Bằng Luân là xã có diện tích lớn nhất 11,76 km2và nơi tập trung dân cư đông nhất là Chí Đám 8.394 người với mật độ dân số 658 người/km2.