phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3: THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỒNG VĂN. KẾT LUẬN z 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN,THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI Để giải quyết đói nghèo hiện nay, không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ đói nghèo không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, mà nó còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Các tổ chức, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn thuộc các cơ quan, đơn vị ở nhiều cấp, ngành và địa phƣơng khác nhau đã có nhiều nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo ở các góc độ khác nhau.
Trên thế giới có một số hội nghị bàn về vấn đề đói nghèo như: - Hội nghị về chống đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do tổ chức ESCAP (Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dƣơng) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan, tháng 9 năm 1993, đã đƣa ra khái niệm chung về đói nghèo, thực trạng của đói nghèo và những giải pháp chống đói nghèo trong khu vực. - Hội nghị về phát triển xã hội do Liên hợp quốc chủ trì, tại Côpenhaghen - Đan Mạch, tháng 3 năm 1995, gồm các nguyên thủ quốc gia, đã tập trung thảo luận vấn đề giảm đói nghèo, hoà hợp xã hội và nêu lên trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nƣớc phát triển trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nƣớc đang phát triển xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa những nƣớc giàu và nƣớc nghèo. Trong nước đã có một số hội nghị, công trình nghiên cứu và bài viết được công bố: - Hội thảo khoa học về XĐGN do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội và Tạp chí Cộng sản đồng tổ chức, Hà Nội 2006. - Ngân hàng thế giới: Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam, 2004.
z 5 - Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997. Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nƣớc ta đến năm 2000. Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đƣa ra các phƣơng pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình; qua đó đƣa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
- Đinh Thị Thúy Hƣờng "Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng hiện nay", Luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009. - Nguyễn Sơn, “Các Huyện ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010. - Nguyễn Thúy Anh "Xóa đói giảm nghèo ở vùng núi phía Bắc Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009. - Nguyễn Thị Minh Nguyệt:Giải pháp giảm nghèo trên địa bàn quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng”.
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012. -Ngô Quang Minh: Tác động kinh tế của Nhà nước góp phần xóa đói, giảm nghèo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, H. Phan Huy Đƣờng (2008): Xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và xã hội, số 329, tr 20-23. z 6 - Nguyễn Tiệp (2008): Một số giải pháp giảm nghèo bền vững đối với các huyện nghèo, Tạp chí Lao động và xã hội, số 332, tr.
- Phạm Văn Khôi (2009): Giải pháp hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở huyện nghèo Bắc Hà tỉnh Lào Cai giai đoạn 2009-2020, Tạp chí Lao động và xã hội, số 359, tr. - TS Đàm Hữu Đắc và TS Nguyễn Hải Hữu (đồng chủ biên): Những định hướng chiến lược của chương trình, mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, 2004. - Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội chủ biên các cuốn sách: Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993); Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993); Xóa đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996); Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997). Lê Quốc Lý (chủ biên): Chính sách xóa đói giảm nghèo, thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, H.
Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Hân: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, 1996. Cuốn sách này nêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nƣớc ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đƣa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vƣơn lên. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở các địa bàn, phạm vi và dƣới nhiều giác độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Nhƣng chƣa có công trình nào đề cập đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo đối với huyện Đồng Văn - một địa bàn đặc trƣng của vùng cao núi đá, biên giới, nhiều dân tộc thiểu số, điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thiếu những điều kiện thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhƣ đất, nƣớc.
KHÁI NIỆM ĐÓI, NGHÈO VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ĐÓI, NGHÈO HIỆN NAY Đói nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế, xã hội, nó hiện hữu trong cuộc sống nhƣ một yếu tố lịch sử, có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và cũng có thể mất đi ở mỗi con ngƣời, mỗi gia đình, mỗi quốc gia hay mỗi xã hội. Không có một định nghĩa chung về đói nghèo, khái niệm đói nghèo đƣợc dùng rất lâu trên thế giới để chỉ tình trạng của một nhóm ngƣời trong xã hội không có khả năng đƣợc hƣởng “một cái gì đó” ở mức độ tối thiểu cần thiết, tuy nhiên quan niệm đói nghèo chỉ mang tính chất tƣơng đối bởi vì nó phụ thuộc vào điều kiện không gian, địa lí, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phƣơng, từng quốc gia. Khái niệm về đói, nghèo * Quan niệm của các tổ chức và chuyên gia quốc tế về đói, nghèo Tổ chức UNDP đã đƣa ra những định nghĩa về nghèo [35, tr.27] nhƣ sau: - Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con ngƣời nhƣ biết đọc, biết viết và đƣợc nuôi dƣỡng tạm đủ. - Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đƣợc xác định nhƣ không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lƣơng thực và phi lƣơng thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đƣợc xác định khác nhau ở nƣớc này hay nƣớc khác. Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại BangKok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập quán của từng địa phương”. z 8 Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hƣớng dẫn về phƣơng pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lƣợng hóa (định lƣợng) đƣợc bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau.
Vấn đề quan trọng nhất mà khái niệm này đã đƣa ra đƣợc đó chính là những nhu cầu cơ bản của con ngƣời, nếu không đƣợc thỏa mãn thì họ chính là những ngƣời nghèo đói. Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, ngƣời ta đã đƣa ra hai khái niệm khác, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu. Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ với đƣờng nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian.
Nghèo tuyệt đối thƣờng đƣợc tính trên những nhu cầu dinh dƣỡng và một số hàng hóa khác, do vậy một đƣờng nghèo tuyệt đối đƣợc dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói. Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của dân cƣ, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân. Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, ngƣời ta sử dụng khái niệm nghèo tƣơng đối.
Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm nghèo tuyệt đối. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nƣớc. Khái niệm nghèo tƣơng đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu.