chương I). Ngoài ra, tác giả tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra đối với sự phân hóa giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (chương II). Hơn nữa, tác giả đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế sự phân hóa giàu - nghèo; trong đó, tập trung vào hai nhóm giải pháp chính: một là, nhóm giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo và hai là, nhóm giải pháp hạn chế sự làm giàu không chính đáng (chương III). Tóm lại, quyển sách đã làm sang tỏ một số vấn đề về thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động của sự phân hóa giàu - ngheo và những giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Diệp Văn Sơn (2007: “Chỉ có tăng trưởng kinh tế mới giúp dân thoát nghèo bền vững” [36], tác giả đã phân tích các thành tựu về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam làm cho công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt được kết quả cao; đồng thời chỉ ra những bất cập và hạn chế trong công tác xoá đói, giảm nghèo. Trên cơ sở những kinh nghiệm của nền kinh tế thế giới và Việt Nam về công tác xoá đói, giảm nghèo, tác giả còn khẳng định sự tăng trưởng kinh tế là cách thức giảm nghèo bền vững và hiệu quả nhất. - Bùi Minh Đạo (2005):“Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên” [15]. Sau khi tác giả đã khái quát các điều kiện về môi trường cư trú, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, tác giả làm rõ các chính sách và kết quả thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo.
Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Theo tác giả, thực hiện xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên cần quán triệt các quan diểm: Xóa đói giảm nghèo là một cuộc cách mạng toàn diện; xóa đói giảm nghèo gắn với thực hiện chính sách dân tộc, bảo vệ an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái; 17 xóa đói giảm nghèo trên cơ sở xem xết thiết chế xã hội truyền thống và phù hợp với đặc điểm, bảo tồn đa dạng văn hóa tộc người; kế thừa tri thức bản địa của người dân về cách quản lý nguồn tài nguyên. Ngoài ra, tác giả cũng để ra một số nhóm giải pháp như nâng cao năng lực, phat triển sản xuất, xã hội. Cuối cùng tác giả nhấn mạnh, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên.
Đây cũng là tài liệu tham khảo có giá trị, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn về xóa đói giảm nghèo bao quát hơn ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO 1. Công trình khoa học của Lào - Sôm sa vát LEENG SA VẮT: “Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng NDCM Lào” [107]. Chính phủ Lào đã xây dựng một số chương trình hành động của những năm đầu thế kỷ 21, trong đó thanh toán đói nghèo được xác định là một trong những chương trình trọng điểm với mục tiêu cả nước hoàn thành xoá đói giảm nghèo vào năm 2020.
Đây cũng là chương trình mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc và được gắn với cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá, bản văn hoá mà tiêu chuẩn hàng đầu là mọi thành viên trong cộng đồng đều có nghề nghiệp ổn định, có cuộc sống đủ ăn và đủ mặc. Căn cứ vào thực tế về số hộ đói nghèo, tiềm năng đất đai, tập quán sản xuất, nguồn vốn hiện có… tư từng địa phương đã xây dựng chương trình hành động với những bước đi và các mục tiêu phù hợp nhằm bảo đảm đạt hiệu quả cao, trước hết ở các vùng trọng điểm. Cuộc chiến thanh toán đói nghèo ở Lào đã và đã có tác dụng rõ rệt đến với các hộ nghèo. Mỗi nơi một cách làm, nhưng đều có chung mục tiêu giúp các hộ gia đình khó khăn vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu.
Cùng với đó, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun cũng đã đánh giá cao những tiến bộ của Lào đã đạt được trong công cuộc xoá đói nghèo, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tích cực hội nhập kinh tế toàn cầu. - Bunthoong CHITMAMY (2012), luận tiến sĩ “Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển nông thôn mới ở CHDCND Lào hiện nay” [6], tác giả đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, 18 hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn mới ở nước CHDCND Lào. Tác giả làm rõ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển giai cấp nông dân và phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; làm rõ vai trò, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong lãnh đạo xây dựng và phát triển nông thôn mới. Trong đó, tác giả còn phân tách rõ thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển nông thôn đất nước Lào và đồng thời tác giả còn chỉ ra những vấn đề cấp thiết cần quan tâm giải quyết.
Các nội dung của luận án có thể tham khảo, vận dụng, kế thừa những phương hướng; những giải pháp; thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo ở các thỉnh miền Bắc Lào giai đoạn hiện nay. - Khăm Phăn PHỒM MA THẮT (2014), bài “Chủ tịch Cảy Xỏn Phồm Vị Hạn về sự nâng cao phẩm chất của hàng ngũ cán bộ chủ chốt trong sự nghiệp đổi mới” [88], tác giả đã chỉ rõ theo Chủ tịch Cảy Xỏn Phồm Vị Hạn, phẩm chất, đạo đức của cán bộ lãnh đạo trong giai đoạn đổi mới gồm có: “Lập trường vững vàng với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, biết rõ giữa Bạn và thù địch”, có trách nhiệm công vụ cao, “Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, và “Phải trong sạch, chăm chỉ, tiết kiệm, chân thực”, phương thức làm việc phải tiếp cận với quần chúng, nói đi đối với làm, phải dẫn đầu làm gương mẫu, trung thực, khiêm tốn, đơn giản, trong sáng. Đây là những chỉ dẫn và có giá trị để nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu về trách nhiệm, nhận thức, tư tưởng của các cấp ủy đảng, cán bộ đảng viên và các toàn thể nhân dân về công tác giảm nghèo nói chung, nhất là ở các tỉnh miền Bắc Lào nói riêng. - Phu thong Sỹ Văn Thong Khăm về bài "Quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về công tác dân tộc ở CHDCND Lào" [94].
Tác giả đã khái quan những quan điểm cơ bản về dân tộc của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào qua các kỳ Đại hội. Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm tằng cường công 19 tác dân tộc có hiệu quả hơn trong thời gian tới như: 1). Tăng cường việc xây dựng - hoàn thiện hệ thống trị trị cơ sở vững mạnh theo hướng xây dựng tỉnh thành đơn vị chiến lược, huyện thành đơn vị kế hoạch và bản thành đơn vị tổ chức thực hiện. Đẩy mạnh sản xuất và mở rộng lưu thông hàng hóa nhằm thay đổi từ sản xuất dựa vào tự nhiên sang sản xuất hàng hóa, phát huy tiềm năng của các địa phương miền núi vùng cao và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc Lào.
- Chăn Sy Phổ Sy Khăm, bài "Quan tâm xây dượng Đảng, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và phong cách lãnh đạo" [74]. Về công tác chính trị, tư tưởng, tình hình chính trị thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mau chóng, phức tạp, khó lường; mặt trái cơ chế thị trường; sự phát trển nhanh chóng của khoa học và công nghệ; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng cường chống phá, Đảng và Nhà nước Lào. Cán bộ đảng viên và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, yên tâm công tác lao động, sản xuất, đời sống của nhân dân tương đối ổn định. Hệ thống chính trị tiếp tụ được củng cố; vai trò và hiệu lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân tiếp tục được tăng cường quyền làm chủ của nhân dân.
Công tác chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dan các bộ tộc Lào, đã được tiến hành dưới nhiều hình thức, biện pháp đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của từng cơ quan đơn vị và cơ sở. Sự quan tâm công tác chính trị, tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các cơ quan đơn vị và nhân dân đã tạo được sự diễn biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần tích cực giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lò trung thành với Đảng, với tổ quốc và nhân dân, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ, ý thức kỷ luật. Kết quả của công tác chính trị, tư tưởng đã góp phần quan trọng trong quá trình hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Đặng Kim Sơn, “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp - hoá hiện đại hoá” [35], tác giả đã nói về bước vào giai đoạn đầu cải cách kinh tế, các chính sách cải cách quan trọng nhất trong nông nghiệp bắt nguồn từ những giải pháp “phá rào” của nông dân ở cơ sở.
Cuối thập kỷ 1970, các tỉnh còn lạc hậu khó khăn như tỉnh An Huy, tỉnh Tứ Xuyên, tỉnh Cam Túc, tỉnh Quý Châu, tỉnh Nội Mông… đã thực hiện khoán sản phẩm tới từng đôi sản xuất hoặc định mức sản xuất, có nơi còn bí mật tiến hành khoán sản phẩm tới từng hộ gia đình. Hình thức khoán sản phẩm dần dần lan ra cả nước; tháng 9 năm 1980, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra văn kiện số 75 chính thức cho phép khoán hộ.